Trở Lại Mục Lục

Quyển II: Dân Chúa

Phần I: Các Tín Hữu

Thiên 3:

Các Thừa Tác Viên Có Chức Thánh

Hay Là Các Giáo Sĩ

 

Chương I: Sự Ðào Tạo Các Giáo Sĩ

Ðiều 232: Giáo Hội có nghĩa vụ và quyền lợi riêng biệt và độc hữu đào tạo các người được trạch cử vào tác vụ thánh.

Ðiều 233: (1) Toàn thể cộng đồng Kitô giáo có nghĩa vụ cổ động ơn gọi, hầu cung cấp đủ cho nhu cầu các tác vụ thánh trong toàn thể Giáo Hội. Nghĩa vụ này bó buộc cách riêng các gia đình Kitô giáo, các nhà giáo dục và đặc biệt là các Linh Mục, nhất là các Cha Sở. Các Giám Mục giáo phận, những người phải lo cổ động ơn gọi hơn ai hết, hãy dạy cho dân đã được trao phó cho mình về sự cao trọng của tác vụ thánh và sự cần thiết của các thừa tác viên có chức thánh trong Giáo Hội; các vị hãy phát động và nâng đỡ các sáng kiến cổ động ơn gọi, nhất là qua các cơ sở đã được thành lập nhằm mục tiêu ấy.

(2) Ngoài ra, các Linh Mục, nhất là các Giám Mục giáo phận, phải để tâm lo cho những người đã đứng tuổi và cảm thấy được gọi vào tác vụ thánh, sao cho những người ấy được giúp đỡ khôn khéo bằng lời nói và bằng hành động, và được chuẩn bị xứng đáng.

Ðiều 234: (1) Ở đâu đã có, thì hãy duy trì và cổ động các tiểu chủng viện hay các tổ chức tương tự nhằm cổ võ ơn gọi qua việc đào tạo đạo đức riêng biệt cũng như giáo dục về mặt nhân bản và khoa học. Thậm chí, ở đâu Giám Mục giáo phận xét thấy thuận lợi, thì nên tiến tới việc thành lập tiểu chủng viện hoặc một học hiệu tương tự.

(2) Ngoại trừ những trường hợp cụ thể đòi hỏi phải làm cách khác, các thanh thiếu niên ước muốn tiến lên chức Linh Mục cần phải được hấp thụ một nền giáo dục nhân bản và khoa học, tương đương với thanh thiếu niên chuẩn bị vào cấp học cao đẳng tại địa phương mình.

Ðiều 235: (1) Các thanh niên ước muốn tiến lên chức Linh Mục phải được hấp thụ sự huấn luyện về mặt thiêng liêng thích hợp và về các chức vụ riêng trong đại chủng viện trong suốt thời gian huấn luyện, hoặc ít là trong bốn năm, nếu hoàn cảnh đòi hỏi như vậy theo nhận định của Giám Mục.

(2) Những ai được trọ ở ngoài chủng viện cách hợp pháp, thì Giám Mục giáo phận cần cử một Linh Mục đạo đức và có khả năng để phụ trách cho họ được huấn luyện kỹ lưỡng về đời sống đạo đức và về kỷ luật.

Ðiều 236: Các ứng viên lên chức Phó Tế vĩnh viễn cần được huấn luyện để nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và để chu toàn bổn phận riêng của chức thánh, tùy theo qui định của Hội Ðồng Giám Mục:

1. các ứng viên trẻ tuổi phải qua thời gian đào tạo ít nhất là ba năm tại một nhà riêng biệt, trừ khi Giám Mục giáo phận ấn định cách khác vì có lý do trầm trọng;

2. các ứng sinh lớn tuổi, độc thân hay đã kết bạn, phải theo một chương trình kéo dài ba năm do Hội Ðồng Giám Mục ấn định.

Ðiều 237: (1) Khi có thể được và xét thấy thuận lợi, trong mỗi giáo phận nên có một Ðại chủng viện; nếu không, các ứng viên chuẩn bị tác vụ thánh sẽ được gửi trong các chủng viện khác, hoặc sẽ thành lập một chủng viện liên giáo phận.

(2) Chủng viện liên giáo phận chỉ được thành lập do Hội Ðồng Giám Mục - nếu là chủng viện cho toan thể lãnh thổ, hoặc do các Giám Mục liên hệ - nếu không dành cho toàn lãnh thổ, sau khi đã được Tòa Thánh phê chuẩn cả về việc thành lập cũng như về quy chế của chính chủng viện.

Ðiều 238: (1) Các chủng viện đã thành lập hợp pháp thì đương nhiên được hưởng tư cách pháp nhân trong Giáo Hội.

(2) Giám Ðốc thay mặt chủng viện trong tất cả mọi công việc, ngoại trừ những việc mà nhà chức trách có thẩm quyền ấn định cách khác.

Ðiều 239: (1) Trong mỗi chủng viện cần có một Giám Ðốc đứng đầu, và nếu cần, một Phó Giám Ðốc, một Quản Lý và, nếu các chủng sinh theo học ở trong chính chủng viện, thì cả các giáo sư dạy các môn học khác nhau theo một chương trình được sắp xếp quy củ.

(2) Trong mỗi chủng viện, ít ra phải có một Linh giám. Tuy nhiên, các chủng sinh được tự do lui tới với các Linh Mục khác đã được Giám Mục trạch cử vào trách vụ đó.

(3) Trong nội quy của chủng viện, cần ấn định phương thức nhờ đó các vị điều hành khác, các giáo sư và ngay cả chính các chủng sinh đều có thể chia sẻ trách nhiệm với Giám Ðốc, nhất là trong việc duy trì kỷ luật.

Ðiều 240: (1) Ngoài các cha giải tổi thường xuyên, các cha giải tội khác nên tới chủng viện cách đều đặn; và trong khuôn khổ kỷ luật của chủng viện, các chủng sinh luôn luôn có thể đến với bất cứ cha giải tội nào ở trong hoặc ở ngoài chủng viện.

(2) Khi phải quyết định về việc chấp nhận các ứng sinh tiến chức hoặc là thải hồi họ ra khỏi chủng viện, không bao giờ được hỏi ý kiến của cha Linh Giám và của các cha giải tội.

Ðiều 241: (1) Giám Mục giáo phận chỉ nên thâu nhận vào Ðại chủng viện những người nào, xét theo các đức tính nhân bản và luân lý, đạo hạnh và trí tuệ, sức khỏe thể lý và tâm lý cùng ý muốn ngay thẳng của họ, được coi là có đủ khả năng hiến thân trọn đời cho các tác vụ thánh.

(2) Trước khi được thâu nhận, họ phải xuất trình chứng thư Rửa Tội và Thêm Sức, cũng như các văn kiện khác theo sự đòi hỏi của chương trình đào tạo Linh Mục.

(3) Khi muốn thâu nhận các chủng sinh đã bị sa thải bởi một chủng viện khác hoặc bởi một dòng tu, thì còn cần chứng thư của Bề Trên liên hệ, nhất là về lý do của sự sa thải hoặc sự rời bỏ.

Ðiều 242: (1) Trong mỗi quốc gia, cần có chương trình đào tạo Linh Mục do Hội Ðồng Giám Mục soạn thảo, căn cứ trên các quy tắc do thẩm quyền tối cao của Giáo Hội ấn định, và được Tòa Thánh phê chuẩn. Chương trình ấy cần được thích nghi cho hợp với hoàn cảnh mới, với sự phê chuẩn của Tòa Thánh. Trong chương trình đào tạo, cần phải xác định những nguyên tắc chính yếu về việc đào tạo trong chủng viện, và những nguyên tắc tổng quát được thích nghi với những nhu cầu mục vụ của từng miền hoặc từng tỉnh.

(2) Các quy tắc về chương trình nói ở triệt 1 trên đây cần được áp dụng cho tất cả các chủng viện, dù là giáo phận hay liên giáo phận.

Ðiều 243: Hơn nữa, mỗi chủng viện còn có những điều lệ riêng được chuẩn y bởi Giám Mục giáo phận, hoặc bởi các Giám Mục liên hệ nếu là chủng viện liên giáo phận. Ðiều lệ nhằm thích nghi chương trình đào tạo Linh Mục hợp với những hoàn cảnh đặc biệt, và nhất là hoạch định rõ ràng hơn những khía cạnh kỷ luật chi phối nếp sống hằng ngày của chủng sinh và trật tự của cả chủng viện.

Ðiều 244: Việc đào luyện về đạo đức và đạo lý cho các chủng sinh cần được hòa hợp và ăn nhịp với nhau, nhằm cho mỗi người tùy theo cá tính riêng, đạt được sự trưởng thành về nhân bản, cùng với tinh thần Phúc Âm và sự kết hợp chặt chẽ với Ðức Kitô.

Ðiều 245: (1) Nhờ sự đào tạo về đạo đức, các chủng sinh trở thành những người đủ khả năng thi hành sứ mệnh mục vụ với kết quả phong phú và được huấn luyện về tinh thần truyền giáo, biết thâm tín rằng sự luôn luôn chu toàn chức vụ với niềm tin sống động và đức ái sẽ giúp họ thánh hoá bản thân. Ngoài ra, các chủng sinh hãy vun trồng những đức tính nhân bản cần thiết cho sự sống trong xã hội, sao cho họ biết dung hòa được những giá trị nhân bản với giá trị siêu nhiên.

(2) Các chủng sinh cần được đào luyện để có lòng yêu mến Giáo Hội của Ðức Kitô, kết hợp với Ðức Thánh Cha, Người kế vị Thánh Phêrô, với tấm lòng khiêm nhượng và thảo hiếu, gắn bó với Giám Mục riêng của mình như những người cộng sự trung thành, và biết hợp tác với anh em đồng nghiệp. Nhờ sự sống chung trong chủng viện và nhờ liên lạc bằng hữu với các bạn đồng môn, họ được chuẩn bị cho có tinh thần hợp nhất huynh đệ với Linh Mục đoàn trong giáo phận mà họ sẽ là thành phần nhằm phục vụ Giáo Hội.

Ðiều 246: (1) Việc cử hành Thánh Thể phải là trọng tâm cho cả đời sống của chủng viện, nhờ vậy mà hằng ngày, khi thông hiệp vào chính tình bác ái của Ðức Kitô, các chủng sinh múc lấy từ nguồn suối rất phong phú này, sức mạnh cho công việc tông đồ và cho đời sống đạo đức của họ.

(2) Họ cần được tập luyện cử hành phụng vụ giờ kinh, nhờ đó các thừa tác viên của Thiên Chúa, nhân danh Giáo Hội, cầu khẩn Thiên Chúa cho toàn dân đã giao phó cho họ, và cho toàn thể thế giới nữa.

(3) Họ hãy được khuyến khích tôn kính Ðức Trinh Nữ Maria, kể cả bằng việc lần hạt Mân Côi, việc tâm nguyện và các việc đạo đức khác, nhờ đó các chủng sinh thủ đắc tinh thần cầu nguyện và được vững tâm tiến bước theo ơn gọi.

(4) Các chủng sinh hãy năng xưng tội thường xuyên; ngoài ra, nên khuyến khích mỗi chủng sinh hãy có một cha Linh Giám do mình lựa chọn và có thể tin cậy cởi mở lương tâm với người.

(5) Hằng năm, các chủng sinh phải lo tĩnh tâm.

Ðiều 247: (1) Nhờ sự giáo dục thích hợp, các chủng sinh cần được chuẩn bị sống bậc độc thân và cần học hiểu để quý trọng nó như một hồng ân đặc biệt của Thiên Chúa.

(2) Các chủng sinh cần phải ý thức rõ rệt về mọi bổn phận và gánh nặng dành cho các thừa tác viên có chức thánh của Giáo Hội, không nên giấu diếm gì về những khó khăn của đời sống Linh Mục.

Ðiều 248: Sự đào tạo về đạo lý nhằm giúp cho các chủng sinh thâu đạt, cùng với nền văn hóa tổng quát thích ứng với những nhu cầu của mỗi nơi mỗi thời, một nền đạo lý sâu rộng và chắc chắn về các môn học thánh, để khi Ðức Tin đã đặt nền tảng và được nuôi dưỡng bởi những môn đó, các chủng sinh có thể loan truyền đạo lý Phúc Âm cách thích hợp cho những người của thời đại mình, hợp với tâm trạng của họ.

Ðiều 249: Chương trình đào tạo Linh Mục phải dự liệu cho các chủng sinh không những được học hỏi kỹ lưỡng tiếng quốc ngữ, mà còn sành sõi La ngữ và hiểu biết những ngoại ngữ khác cần thiết và hữu ích cho chính việc huấn luyện chủng sinh hoặc cho sứ mệnh mục vụ.

Ðiều 250: Các môn Triết học và Thần học trong một chủng viện có thể được dạy kế tiếp nhau hoặc đồng thời với nhau, tùy theo chương trình đào tạo Linh Mục. Hai khoa học ấy phải bao trùm một thời gian ít nhất là sáu năm trọn: hai năm dành cho Triết học và bốn năm dành cho Thần học.

Ðiều 251: Việc huấn luyện Triết học cần dựa vào di sản Triết học có giá trị muôn đời, và đồng thời để ý đến sự nghiên cứu triết học trải qua giòng lịch sử với mục tiêu là bổ túc việc đào tạo về nhân bản cho chủng sinh, rèn trí tuệ thêm sắc sảo và chuẩn bị cho chủng sinh đủ khả năng theo đuổi các môn về Thần học.

Ðiều 252: (1) Việc huấn luyện Thần học dưới ánh sáng Ðức Tin và theo sự hướng dẫn của quyền giáo huấn, nhằm giúp các chủng sinh hiểu rõ toàn bộ đạo lý Công Giáo, dựa vào mạc khải của Thiên Chúa; biết biến nó thành lương thực cho đời sống thiêng liêng của họ; và có khả năng loan truyền cùng bênh vực nó trong khi thi hành chức vụ.

(2) Các chủng sinh cần được huấn luyện đặc biệt về Kinh Thánh để giúp cho họ có một cái nhìn tổng quát về Sách Thánh.

(3) Cần có các lớp học về Thần học Tín lý, luôn luôn dựa vào Lời Chúa chứa đựng trong Thánh Kinh cùng với Thánh Truyền, nhờ vậy, với Thánh Thomas làm tôn sư, các chủng sinh học biết tường tận mầu nhiệm cứu độ. Ngoài ra, còn cần các môn Thần học luân lý và môn mục vụ, giáo luật, phụng vụ, giáo sử và những môn phụ hoặc chuyên biệt khác nữa, tùy theo chương trình đào tạo Linh Mục ấn định.

Ðiều 253: (1) Ðể đảm nhận chức giáo sư các môn Triết học, Thần học và Giáo Luật, Giám Mục hoặc các Giám Mục liên hệ chỉ nên bổ nhiệm những người trổi về nhân đức, có văn bằng Tiến sĩ hoặc Cử nhân của một đại học hoặc phân khoa đã được Tòa Thánh công nhận.

(2) Cần lo liệu bổ nhiệm có những giáo sư riêng biệt để dạy từng môn theo phương pháp riêng: Thánh Kinh, Thần Học, Tín Lý, Luân Lý, Phụng Vụ, Triết Học, Giáo Luật, Giáo Sử và các môn khác.

(3) Giáo sư nào thiếu sót trách vụ cách nặng nề, sẽ bị sa thải do thẩm quyền nói ở triệt 1.

Ðiều 254: (1) Khi dạy học, các giáo sư phải lưu ý đặc biệt đến tính cách duy nhất và hòa hợp nội tại của toàn bộ giáo lý Ðức Tin, ngõ hầu các chủng sinh có thể cảm thấy họ đang học một khoa học duy nhất. Ðể dễ đạt mục tiêu đó, trong chủng việc cần có một người điều khiển việc tổ chức toàn bộ chương trình các môn học.

(2) Các chủng sinh cần được huấn luyện để có thể tự mình khảo cứu để tìm hiểu các vấn đề, dựa theo phương pháp khoa học. Bởi vậy, cần có những công việc thực tập, dưới sự chỉ dẫn của các giáo sư, nhờ đó các chủng sinh tập cách học hỏi bằng sự cố gắng riêng tư của mình.

Ðiều 255: Tuy dù toàn thể công việc huấn luyện chủng sinh trong chủng viện đều qui hướng về mục tiêu mục vụ, nhưng cũng cần dành riêng một phần chương trình dạy về mục vụ, nhờ vậy các chủng sinh học biết được các nguyên tắc và phương pháp liên quan tới việc thi hành tác vụ giảng dạy, thánh hóa và coi sóc dân Chúa, tuy cũng phải lưu ý tới các nhu cầu của từng nơi và từng thời.

Ðiều 256: (1) Các chủng sinh cần được ân cần huấn luyện chu đáo trong hết mọi lãnh vực liên can cách riêng tới tác vụ thánh, nhất là về phương pháp dạy giáo lý và giảng thuyết, về việc phụng tự và đặc biệt là việc cử hành các Bí tích, về việc tiếp xúc với quần chúng, kể cả với những người không Công Giáo cũng như những người vô tín ngưỡng, về việc quản trị giáo xứ và những trách vụ khác.

(2) Chủng sinh cần được dạy cho biết những nhu cầu của Giáo Hội phổ quát, để họ lưu tâm tha thiết đến việc cổ võ ơn thiên triệu, tới công việc truyền giáo, công việc đại kết Giáo Hội và các vấn đề khẩn trương khác, kể cả những vấn đề xã hội.

Ðiều 257: (1) Việc đào tạo các chủng sinh cần phải thực hiện thế nào để họ biết để ý không những cho Giáo Hội địa phương nơi họ nhập tịch để phục vụ, mà còn biết lo cho cả Giáo Hội phổ quát, và họ tỏ ra sẵn sàng hiến thân cho các Giáo Hội địa phương đang ở trong tình trạng cấp bách.

(2) Giám Mục giáo phận phải dự liệu cho các giáo sĩ có ý định muốn thuyên chuyển từ Giáo Hội địa phương của họ tới một Giáo Hội địa phương ở miền khác, được chuẩn bị thích đáng để thi hành chức vụ thánh, tỉ như học tiếng địa phương và hiểu biết các định chế, điều kiện xã hội, phong tục và tập quán của miền đó.

Ðiều 258: Ðể cũng có thể học phương pháp làm tông đồ bằng chính việc làm, các chủng sinh, trong suốt thời gian học trình, và nhất là trong thời kỳ nghỉ hè, phải được khởi sự thực hành công việc mục vụ bằng những công tác thích hợp do Bản Quyền xét đoán và chỉ định, dưới sự hướng dẫn của một Linh Mục thành thạo, phù hợp với tuổi của các chủng sinh và các điều kiện của địa phương.

Ðiều 259: (1) Giám Mục giáo phận, hoặc các Giám Mục liên hệ nếu là chủng viện liên giáo phận, có thẩm quyền chỉ định Ban Giám Ðốc và công việc quản trị chủng viện.

(2) Giám Mục giáo phận, hoặc các Giám Mục liên hệ nếu là chủng viện liên giáo phận, nên đích thân lui tới thăm viếng chủng viện, theo dõi việc đào tạo các chủng sinh, việc giảng dạy Triết và Thần học, thu thập kiến thức về ơn gọi, tính nết, lòng đạo và sự tấn tới của các chủng sinh, nhất là khi nhằm tới việc truyền chức thánh cho họ.

Ðiều 260: Tất cả mọi người, trong khi lo chu toàn nhiệm vụ riêng của mình, phải vâng phục Giám Ðốc, vì Ngài có phận sự điều hành trực tiếp chủng viện, dựa theo chương trình đào tạo Linh Mục và qui luật của chủng viện.

Ðiều 261: (1) Giáo Ðốc chủng viện, và dưới quyền Ngài, các vị điều hành, các giáo sư, ai nấy tùy theo cương vị riêng của mình, phải lo liệu để các chủng sinh trung thành tuân giữ mọi điều lệ đã ấn định trong chương trình đào tạo Linh Mục và qui luật của chủng viện.

(2) Giám Ðốc chủng viện và Giám Học phải ân cần lo cho các giáo sư chu toàn phận sự riêng của họ, theo đúng qui định của chương trình đào tạo Linh Mục và qui luật của chủng viện.

Ðiều 262: Chủng viện được đặt ra ngoài lãnh vực cai quản của cha sở; bởi vậy, Giám Ðốc chủng viện hoặc một người được thừa ủy sẽ đảm trách phận sự của cha sở đối với hết mọi người ở trong chủng viện, ngoại trừ vấn đề hôn phối và quy định của điều 985.

Ðiều 263: Giám Mục giáo phận, hoặc các Giám Mục liên hệ nếu là chủng viện liên giáo phận, phải đóng góp, dựa theo một giá biểu đã thỏa thuận, vào việc xây cất và bảo trì chủng viện, việc chu cấp cho các chủng sinh, thù lao cho các giáo sư và các nhu cầu khác của chủng viện.

Ðiều 264: (1) Ðể đáp ứng các nhu cầu của chủng viện, ngoài tiền lạc quyên nói ở điều 1266, Giám Mục có thể bổ một thứ thuế trong giáo phận.

(2) Tất cả các pháp nhân thuộc Giáo Hội, kể cả pháp nhân tư, có trụ sở trong giáo phận, phải nộp thuế đóng góp giúp chủng viện, trừ những pháp nhân nào chỉ sống nhờ tiền bố thí hoặc hiện có một cộng đồng sinh viên hay giáo sư nhằm cổ động cho lợi ích chung của Giáo Hội. Thuế như vậy có tính cách tổng quát, tương xứng với lợi tức của những người phải góp thuế và được ấn định tùy theo những nhu cầu của chủng viện.

 

Chương II: Sự Nhập Tịch Của Các Giáo Sĩ

Ðiều 265: Bất cứ giáo sĩ nào cũng phải nhập tịch hoặc vào một Giáo Hội địa phương hoặc vào một phủ Giám Chức tòng nhân hoặc vào một Dòng tu nào hoặc vào một Tu đoàn hưởng năng quyền ấy; bởi đó, tuyệt đối không chấp nhận các giáo sĩ không có Bề Trên hoặc lang thang.

Ðiều 266: (1) Do việc lãnh chức Phó Tế, một người trở thành giáo sĩ và được nhập tịch vào một Giáo Hội địa phương hoặc một phủ Giám Chức tòng nhân mà họ được tiến chức để phục vụ.

(2) Một phần tử đã khấn trọn đời trong một Dòng tu hoặc đã gia nhập vĩnh viễn vào một Tu đoàn tông đồ giáo sĩ, khi lĩnh chức Phó Tế thì sẽ nhập tịch như một giáo sĩ vào Dòng tu hay vào Tu đoàn ấy, chỉ trừ khi Tu đoàn có hiến pháp qui định cách khác.

(3) Một phần tử của một tu hội đời, khi đã chịu chức Phó Tế sẽ nhập tịch vào Giáo Hội địa phương nơi họ được tiến cử để phục vụ, trừ khi được Tòa Thánh chuẩn nhượng cho nhập tịch vào chính Tu hội.

Ðiều 267: (1) Ðể một giáo sĩ đã nhập tịch được nhập tịch hữu hiệu vào một Giáo Hội địa phương khác, cần phải có văn thư xuất tịch do chính Giám Mục giáo phận ký nhận và đồng thời phải có văn thư nhập tịch được ký nhận bởi Giám Mục giáo phận của Giáo Hội địa phương tại nơi mà giáo sĩ ước muốn nhập tịch.

(2) Sự xuất tịch được cấp chỉ có hiệu lực kể từ khi thủ đắc sự nhập tịch vào Giáo Hội địa phương khác.

Ðiều 268: (1) Giáo sĩ nào đã được thuyên chuyển hợp lệ từ Giáo Hội địa phương riêng của mình qua một Giáo Hội địa phương khác, thì sau năm năm chẵn, sẽ được nhập tịch do luật định vào Giáo Hội địa phương này, nếu đương sự viết đơn tỏ ý muốn của mình với Giám Mục giáo phận của Giáo Hội đã đón tiếp mình, cũng như với Giám Mục riêng của mình, và không ai trong hai người thông báo sự phản kháng bằng giấy tờ trong thời gian bốn tháng kể từ ngày nhận đơn.

(2) Giáo sĩ nào đã được nhập tịch vào một Dòng tu hoặc Tu đoàn tông đồ, theo điều 266 triệt 2 thì được kể là sẽ xuất tịch khỏi Giáo Hội địa phương riêng của mình do việc được thu nhận trọn đời hay vĩnh viễn vào Dòng tu hay Tu đoàn.

Ðiều 269: Giám Mục giáo phận chỉ nên tiến hành việc nhập tịch của một giáo sĩ khi:

1. nhu cầu hoặc ích lợi của Giáo Hội địa phương của ngài đòi hỏi, và tuân hành các luật lệ liên quan tới việc chu cấp xứng hợp cho giáo sĩ;

2. chắc chắn có văn kiện hợp lệ cho phép xuất tịch, và hơn nữa, đã được Giám Mục giáo phận cho xuất tịch cung cấp những tin cần thiết, cách bí mật nếu thấy là cần, về đời sống, tư cách và học lực của giáo sĩ;

3. giáo sĩ đã tuyên bố, bằng giấy tờ, cho Giám Mục giáo phận rằng mình muốn hiến thân phục vụ Giáo Hội địa phương mới, đúng như luật định.

Ðiều 270: Sự xuất tịch chỉ có thể ban cấp cách hợp pháp khi có lý do chính đáng, chẳng hạn như ích lợi của Giáo Hội hoặc một điều tốt cho chính giáo sĩ. Sự xuất tịch không thể khước từ nếu không có lý do quan trọng. Tuy nhiên giáo sĩ nào khi cảm thấy mình bị thiệt thòi, và đã tìm được một Giám Mục sẵn sàng đón nhận, thì có thể thượng tố phản kháng quyết định khước từ.

Ðiều 271: (1) Ngoài trường hợp thực cần thiết cho Giáo Hội địa phương riêng, Giám Mục giáo phận không nên khước từ sự thuyên chuyển cho các giáo sĩ mà Ngài biết là họ sẵn sàng và đủ khả năng để làm việc ở những nơi khan hiếm trầm trọng giáo sĩ, ngõ hầu họ thi hành tác vụ thánh ở đó. Tuy nhiên, Giám Mục nên dự liệu, qua một hợp đồng với Giám Mục giáo phận tại nơi mà họ sẽ đến, để các quyền lợi và bổn phận của các giáo sĩ ấy được xác định.

(2) Giám Mục giáo phận có thể cho phép các giáo sĩ của mình tới một Giáo Hội địa phương khác trong một thời gian nhất định, tuy có thể triển hạn nhiều lần, nhờ đó các giáo sĩ vẫn tiếp tục nhập tịch tại Giáo Hội địa phương riêng của mình, và khi trở về, họ vẫn được hưởng mọi quyền lợi dường như họ đã phục vụ với tư cách thừa tác viên có chức thánh tại đây.

(3) Giáo sĩ đã thuyên chuyển qua một Giáo Hội địa phương khác cách hợp lệ, song vẫn còn giữ sự nhập tịch trong Giáo Hội gốc, thì có thể bị Giám Mục giáo phận triệu hồi khi có lý do chính đáng, miễn là phải tôn trọng hợp đồng đã thỏa thuận với Giám Mục kia, và cũng như sự công bình tự nhiên. Cũng vậy, miễn là tuân giữ mọi điều kiện như trên, Giám Mục giáo phận của địa phương khác, khi có lý do chính đáng, có thể khước từ sự cho phép giáo sĩ lưu lại trong lãnh thổ của mình.

Ðiều 272: Giám Quản giáo phận không được cho phép xuất tịch và nhập tịch cũng không được cho phép thuyên chuyển qua một Giáo Hội địa phương nào khác, chỉ trừ khi Tòa Giám Mục trống ngôi đã quá một năm và có sự đồng ý của hội đồng tư vấn.

 

Chương III: Nghĩa Vụ Và Quyền Lợi Của Các Giáo Sĩ

Ðiều 273: Các giáo sĩ có nghĩa vụ đặc biệt là phải tỏ lòng kính trọng và vâng lời Ðức Thánh Cha và Bản Quyền riêng.

Ðiều 274: (1) Chỉ duy có các giáo sĩ mới có thể đảm nhận những chức vụ mà việc hành sử đòi hỏi quyền thánh chức hoặc quyền cai trị trong Hội Thánh.

(2) Các giáo sĩ, nếu không có một ngăn trở hợp lệ duyệt chính, phải lãnh nhận và trung thành chu toàn nhiệm vụ được Bản Quyền của mình giao phó.

Ðiều 275: (1) Xét vì tất cả các giáo sĩ đều đồng lao trong cùng một công tác, tức là việc xây dựng Thân Thể Ðức Kitô, nên họ hãy liên kết với nhau trong mối dây huynh đệ và sự cầu nguyện, cổ võ sự cộng tác với nhau, theo các qui định của luật địa phương.

(2) Các giáo sĩ phải nhìn nhận và cổ võ sứ mạng mà các giáo dân thực thi theo phần vụ của họ trong Giáo Hội và trong thế giới.

Ðiều 276: (1) Trong đời sống, giáo sĩ phải lo theo đuổi sự thánh thiện vì một lý do riêng, xét vì do việc lãnh thánh chức, họ được thánh hiến cho Thiên Chúa với tước hiệu mới là những người phân phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa hầu phục vụ cho Dân Ngài.

(2) Ðể có thể theo đuổi sự trọn lành ấy:

1. trước hết, họ hãy chu toàn mọi bổn phận của tác vụ một cách trung thành không biết mệt mỏi;

2. họ hãy nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng bằng hai Bàn Tiệc của Kinh Thánh và Thánh Thể; vì thế, các Tư Tế được khẩn khoản kêu mời hãy dâng Thánh Lễ mỗi ngày, và các Phó Tế, hãy tới tham dự hiến lễ ấy hằng ngày;

3. các Tư Tế và các Phó Tế chuẩn bị làm Linh Mục, buộc mỗi ngày phải đọc Phụng Vụ Các Giờ Kinh theo sách phụng vụ riêng đã được phê chuẩn; còn các Phó Tế vĩnh viễn chỉ buộc đọc phần nào đã được Hội Ðồng Giám Mục ấn định;

4. họ cũng buộc tham dự các cuộc tĩnh tâm, theo qui định của luật địa phương;

5. họ nên suy gẫm thường lệ, năng đi xưng tội, sùng kính Ðức Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa, thi hành các phương tiện thánh hóa khác, chung hay riêng.

Ðiều 277: (1) Các giáo sĩ buộc phải giữ sự khiết tịnh hoàn toàn và trọn đời vì Nước Trời, vì vậy họ phải ở độc thân, là một ơn đặc biệt của Thiên Chúa, nhờ đó các tác viên thánh có thể gắn bó với Ðức Kitô dễ dàng hơn với một con tim không bị chia sẻ và được thong dong hơn để hiến thân phục vụ Thiên Chúa và nhân loại.

(2) Các giáo sĩ phải khôn ngoan khi giao tiếp với những người mà sự năng lui tới với họ có thể gây nguy hại cho việc giữ sự khiết tịnh hoặc sinh ra gương xấu cho giáo hữu.

(3) Giám Mục giáo phận có thẩm quyền ra những qui luật cụ thể hơn trong vấn đề này và xét định về việc tuân hành trong những trường hợp riêng biệt.

Ðiều 278: (1) Các giáo sĩ triều có quyền được lập hiệp hội với nhau nhằm đạt những mục tiêu thích hợp với bậc giáo sĩ.

(2) Các giáo sĩ triều nên quý trong nhất là các hiệp hội, mà nội quy đã được nhà chức trách có thẩm quyền phê chuẩn, nhằm thúc giục nhau nên thánh trong sự thi hành tác vụ, cổ võ sự hiệp nhất giữa giáo sĩ với nhau và với Giám Mục riêng của mình, nhờ một chương trình sống thích đáng và được chấp thuận hợp lệ cũng như nhờ sự tương trợ huynh đệ.

(3) Các giáo sĩ không nên lập hay tham gia các hiệp hội mà mục đích cũng như hoạt động không phù hợp với nghĩa vụ riêng của bậc giáo sĩ, hoặc có thể gây ra nhiều trở ngại cho việc chu toàn các trách vụ do nhà chức trách của Giáo Hội có thẩm quyền đã giao phó.

Ðiều 279: (1) Giáo sĩ cần tiếp tục học các môn thánh khoa, cả sau khi đã chịu chức Linh Mục, và theo sát đạo lý vững chắc dựa trên Kinh Thánh, và đã được tiền nhân lưu lại và được tiếp nhận chung trong cả Giáo Hội, như đã xác định bởi các văn kiện do Công Ðồng và Ðức Giáo Hoàng; họ nên tránh những trào lưu rỗng tuếch và những khoa học giả hiệu.

(2) Dựa theo qui định của luật địa phương, các Linh Mục sau khi đã chịu chức nên đi tham dự những lớp tu nghiệp về mục vụ và, vào những thời kỳ do luật địa phương qui định, cũng nên tham dự những lớp học khác, như những lớp hội thảo về Thần học, các buổi thuyết trình, nhờ đó họ có cơ hội trau dồi thêm kiến thức về các thánh khoa và phương pháp mục vụ.

(3) Họ cũng nên theo dõi các khoa học khác, nhất là các khoa học có liên quan tới các thánh khoa, đặc biệt khi sự hiểu biết về chúng sẽ giúp ích cho việc mục vụ.

Ðiều 280: Hết sức khuyến khích các giáo sĩ nên có đời sống chung một cách nào đó; đâu đã có thì hãy duy trì.

Ðiều 281: (1) Các giáo sĩ hiến thân phục vụ Giáo Hội đáng được hưởng thù lao tương xứng với điều kiện của họ, xét theo bản chất công việc mà họ đảm nhận cũng như các hoàn cảnh tùy nơi tùy thời; sao cho họ có thể đáp ứng các nhu cầu riêng tư và trả công xứng đáng cho những người mà họ cần sự giúp đỡ.

(2) Cần phải liệu sao để các giáo sĩ được hưởng bảo hiểm xã hội, nhờ đó có thể dự phòng tương xứng những nhu cầu khi đau yếu, tàn tật hoặc tuổi già.

(3) Các Phó Tế đã lập gia đình, nếu đã dành toàn thời giờ để phục vụ Giáo Hội, thì đáng được hưởng thù lao thế nào để họ có thể chu cấp cho chính bản thân và cho gia đình họ. Những ai lãnh lương do một nghề nghiệp dân sự hiện đang làm hay trước đây đã làm thì hãy lo liệu chu cấp mọi nhu cầu của bản thân và của gia đình do lợi tức từ tiền lương.

Ðiều 282: (1) Các giáo sĩ nên sống đời giản dị, và xa tránh tất cả những gì có vẻ phù hoa.

(2) Những tài sản mà họ có được trong khi thi hành một chức vụ Giáo Hội, thì sau khi đã dự trù cho việc chu cấp xứng đáng và thi hành những nghĩa vụ khác của bậc mình, nên được dành phần dư vào thiện ích của Giáo Hội và những công cuộc bác ái.

Ðiều 283: (1) Các giáo sĩ, cho dù không có một nhiệm vụ gắn liền với trú sở, không được rời khỏi giáo phận trong một thời gian đáng kể, theo luật địa phương đã xác định, nếu không có phép, ít ra là suy đoán, của Bản Quyền riêng.

(2) Các giáo sĩ, mỗi năm, được hưởng một thời gian phải chăng và đủ dành cho việc nghỉ ngơi, theo như luật chung hoặc luật địa phương đã ấn định.

Ðiều 284: Các giáo sĩ phải mặc y phục Giáo Hội, theo qui luật của Hội Ðồng Giám Mục đã định và theo tập tục hợp lệ tại địa phương.

Ðiều 285: (1) Các giáo sĩ nên xa tránh tất cả những gì không xứng hợp với bậc mình, theo như những qui định của luật địa phương.

(2) Giáo sĩ nên tránh tất cả những gì, cho dù không xấu xa, nhưng xa lạ không thích hợp với bậc giáo sĩ.

(3) Cấm các giáo sĩ đảm nhận những chức vụ công quyền có kèm theo việc hành sử quyền bính dân sự.

(4) Nếu không được phép của Bản Quyền riêng, giáo sĩ không được nhận làm Quản Lý những tài sản thuộc các giáo dân hoặc những chức vụ trần thế kèm theo nghĩa vụ phải kế toán sổ sách; cũng không được làm bảo chứng cho dù dựa vào tài sản riêng của mình nếu không tham khảo ý kiến của Bản Quyền riêng; phải tránh không nên cam kết những khế ước bảo lãnh trả một món nợ mà không định rõ căn nguyên.

Ðiều 286: Cấm các giáo sĩ không được đích thân hoặc nhờ người khác thi hành mậu dịch, doanh thương nhằm kiếm lợi cho mình hoặc cho người khác, khi không có phép của giáo quyền hợp pháp.

Ðiều 287: (1) Các giáo sĩ hãy tận lực cổ võ duy trì hòa bình và hòa đồng giữa mọi người, dựa trên nền tảng công bằng.

(2) Các giáo sĩ không được tham gia tích cực vào các đảng phái chính trị, hoặc dự phần lãnh đạo trong các nghiệp đoàn, trừ khi nào, theo phán đoán của nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội, việc bảo vệ quyền lợi của Giáo Hội và cổ võ công ích đòi hỏi như vậy.

Ðiều 288: Các Phó Tế vĩnh viễn không buộc giữ các qui định của các điều 284, 285 triệt 3 và 4, 286, 287 triệt 2, trừ khi luật địa phương định cách khác.

Ðiều 289: (1) Vì nghĩa vụ quân sự không am hợp cho bậc giáo sĩ, cho nên các giáo sĩ cũng như các ứng sinh chuẩn bị lãnh chức thánh, không được tự nguyện đăng ký nghĩa vụ quân sự, nếu không có phép của Bản Quyền riêng.

(2) Giáo sĩ nên hưởng dụng những miễn trừ khỏi thi hành các chức vụ và mọi dịch vụ công quyền không hợp cho bậc giáo sĩ mà luật pháp hoặc thỏa ước, hoặc tập tục đã dành cho họ, trừ khi nào trong trường hợp đặc biệt Bản Quyền riêng ấn định cách khác.

 

Chương IV: Sự Mất Hàng Giáo Sĩ

Ðiều 290: Chức thánh, một khi đã được lãnh nhận cách hữu hiệu, thì không bao giờ mất được. Tuy nhiên, giáo sĩ có thể mất hàng ngũ:

1. do một án văn hoặc nghị định hành chánh tuyên bố sự vô hiệu của việc chịu chức thánh;

2. do hình phạt trục xuất đã tuyên kết hợp lệ;

3. do một phúc nghị của Tòa Thánh; phúc nghị ấy chỉ được ban cấp cho các Phó Tế khi có lý do hệ trọng, và cho các Linh Mục vì lý do rất trầm trọng.

Ðiều 291: Ngoại trừ những trường hợp đã nói ở điều 290 số 1, sự mất hàng giáo sĩ không kèm theo sự tháo chuẩn nghĩa vụ độc thân. Quyền tháo chuẩn nghĩa vụ ấy được dành cho Ðức Thánh Cha.

Ðiều 292: Giáo sĩ nào mất hàng ngũ giáo sĩ chiếu theo luật định thì mất hết mọi quyền lợi riêng dành cho giáo sĩ và không buộc giữ những nghĩa vụ nào thuộc hàng giáo sĩ nữa, đừng kể nghĩa vụ nói ở điều 291. Ðương sự bị cấm thi hành quyền thánh chức, trừ trường hợp luật định ở điều 976. Cũng vậy, đương sự bị tước hết mọi chức vụ, mọi trọng trách và bất cứ mọi thứ quyền thừa ủy nào.

Ðiều 293: Giáo sĩ, khi đã mất hàng ngũ, sẽ không được phép tái nhập hàng giáo sĩ, nếu không có phúc nghị của Tòa Thánh.

 

(Nhóm Dịch Thuật Việt ngữ Bộ Giáo Luật)

 






Comment: