Trở Lại Mục Lục

Quyển II: Dân Chúa

Phần II: Cơ Cấu Phẩm Trật Của Giáo Hội

Tiết 2:

Các Giáo Hội Ðịa Phương Và

Các Hợp Ðoàn Giáo Hội Ðịa Phương

Thiên 3:

Tổ Chức Nội Bộ Của Các Giáo Hội Ðịa Phương

 

Chương I: Công Nghị Giáo Phận

Ðiều 460: Công nghị giáo phận là một đại hội gồm các tư tế và các tín hữu ưu tuyển của một Giáo Hội địa phương với trách vụ giúp đỡ Giám Mục giáo phận trong việc mưu cầu thiện ích cho toàn thể cộng đoàn giáo phận, theo quy tắc của những điều luật sau đây.

Ðiều 461: (1) Công nghị giáo phận được nhóm họp trong mỗi Giáo Hội địa phương mỗi khi các hoàn cảnh đòi hỏi, theo sự thẩm định của Giám Mục giáo phận sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội Ðồng linh mục.

(2) Nếu một Giám Mục phải coi sóc nhiều giáo phận, hoặc coi sóc một giáo phận như Giám Mục riêng của giáo phận đó đồng thời coi sóc một giáo phận khác như Giám Quản, thì ngài có thể triệu tập một công nghị cho tất cả các giáo phận đã được ủy thác.

Ðiều 462: (1) Chỉ duy Giám Mục giáo phận mới có thể triệu tập công nghị giáo phận; Vị quản trị lâm thời giáo phận không có quyền triệu tập.

(2) Giám Mục giáo phận chủ tọa công nghị giáo phận, tuy dầu ngài có thể ủy cho Tổng Ðại Diện hoặc Ðại Diện Giám Mục chủ tọa từng phiên họp của công nghị.

Ðiều 463: (1) Những người phải được mời làm thành viên, và có nghĩa vụ phải tham dự công nghị giáo phận là:

1. Giám Mục phó và các Giám Mục phụ tá;

2. các Tổng Ðại Diện và các Ðại Diện Giám Mục, cũng như Ðại Diện tư pháp;

3. các kinh sĩ của nhà thờ chính tòa;

4. các thành viên của Hội Ðồng linh mục;

5. các giáo dân, kể cả các phần tử của các Hội Dòng tận hiến, được Hội Ðồng mục vụ lựa chọn theo thể thức và số lượng do Giám Mục giáo phận ấn định; đâu không có Hội Ðồng ấy, thì theo cách thức do Giám Mục giáo phận đã ấn định;

6. Giám Ðốc Ðại Chủng Viện giáo phận;

7. các cha quản hạt;

8. ít là một linh mục cho mỗi giáo hạt, được chọn do những người đang lo việc coi sóc các linh hồn tại đó; ngoài ra, một linh mục khác được lựa chọn để thay thế nếu chẳng may linh mục kia bị ngăn trở;

9. một vài Bề Trên của các Dòng Tu và của các Tu Ðoàn Tông Ðồ hiện đang có tu viện ở trong giáo phận; những người này được lựa chọn theo số lượng và thể thức do Giám Mục giáo phận ấn định.

(2) Giám Mục giáo phận có thể mời làm thành viên của công nghị giáo phận một số người khác, hoặc giáo sĩ hoặc các phần tử Hội Dòng tận hiến hoặc các giáo dân.

(3) Nếu thấy thuận lợi, Giám Mục giáo phận có thể mời làm quan sát viên tại công nghị một số các viên chức hoặc phần tử của các Giáo Hội hoặc thuộc các giáo đoàn không hiệp thông đầy đủ với Giáo Hội Công Giáo.

Ðiều 464: Nếu một thành viên của công nghị bị ngăn trở hợp lệ, thì không có thể cử một người đại diện nhân danh mình tới tham dự; nhưng phải thông tri cho Giám Mục biết về ngăn trở đó.

Ðiều 465: Tất cả các vấn đề đã đề xướng sẽ được các thành viên tự do bàn thảo trong các phiên họp của công nghị.

Ðiều 466: Trong công nghị giáo phận, Giám Mục là nhà lập pháp duy nhất, và các thành viên khác chỉ có quyền tư vấn. Duy có Giám Mục ký nhận mọi tuyên ngôn và mọi quyết nghị của công nghị, và sẽ ban hành chúng với quyền hành của ngài.

Ðiều 467: Giám Mục giáo phận phải thông tri cho Tổng Giám Mục và cho Hội Ðồng Giám Mục về bản văn của các tuyên ngôn và về các quyết nghị của công nghị.

Ðiều 468: (1) Giám Mục giáo phận, tùy theo sự thẩm định khôn ngoan của ngài, có thẩm quyền đình chỉ và giải tán công nghị giáo phận.

(2) Trong khi trống tòa hoặc cản tòa, công nghị đương nhiên theo luật bị đình chỉ cho tới lúc Giám Mục giáo phận kế vị quyết định tiếp tục hoặc tuyên bố kết thúc công nghị.

 

Chương II: Phủ Giáo Phận

Ðiều 469: Phủ giáo phận gồm các định chế và các nhân viên cộng tác với Giám Mục trong việc quản trị toàn thể giáo phận, nhất là việc điều khiển hoạt động mục vụ, lo việc trông nom sự hành chánh của giáo phận cũng như việc hành sử quyền tư pháp.

Ðiều 470: Việc bổ nhiệm những người thi hành chức vụ trong phủ giáo phận là quyền của Giám Mục giáo phận.

Ðiều 471: Tất cả những người đã được thâu nhận vào các chức vụ trong giáo phủ cần phải:

1. hứa trung thành chu toàn chức vụ, theo đúng phương thức do luật pháp hoặc Giám Mục đã ấn định;

2. giữ bí mật trong mức định và theo cách thức do luật pháp hoặc Giám Mục đã ấn định.

Ðiều 472: Ðối với những vụ kiện và nhân viên trong giáo phủ có liên hệ tới việc hành sử quyền tư pháp, phải giữ mọi quy định của quyển VII về "Tố Tụng"; còn những gì liên hệ tới công việc hành chánh của giáo phận, thì phải giữ đúng các quy định của những điều luật sau đây.

Ðiều 473: (1) Giám Mục giáo phận phải lo sao cho mọi công việc liên hệ tới công việc hành chánh của toàn giáo phận được phối trí hợp lý, và nhằm đạt được thiện ích của phần dân Chúa đã ủy thác cho mình.

(2) Chính Giám Mục giáo phận phải lo phối hợp công tác mục vụ giữa các vị Ðại Diện, dù Tổng Ðại Diện hay Ðại Diện Giám Mục. Ở đâu thấy cần, có thể đặt một Giám Ðốc giáo phủ; người này phải là một tư tế, có trách vụ, dưới quyền của Giám Mục, phối hợp mọi công việc liên quan tới công tác hành chánh, cũng như lo cho tất cả các nhân viên giáo phủ hoàn tất chu đáo trách vụ đã ủy thác cho họ.

(3) Nếu, theo thẩm định của Giám Mục, hoàn cảnh tại chỗ không đòi hỏi cách khác, thì Tổng Ðại Diện phải được bổ nhiệm làm Giám Ðốc giáo phủ, hoặc nếu có nhiều Tổng Ðại Diện, thì một trong số các vị ấy sẽ giữ chức vụ ấy.

(4) Ðể xúc tiến công tác mục vụ đắc hiệu hơn, nếu nhận xét thấy tiện, Giám Mục có thể thành lập Ủy Ban Tư Vấn Giám Mục, gồm các Tổng Ðại Diện và các Ðại Diện Giám Mục.

Ðiều 474: Tất cả mọi văn kiện của giáo phủ có tính cách pháp lý thì để được hữu hiệu, cần được ký nhận bởi Bản Quyền tác giả cũng như của Chưởng Ấn hoặc Lục Sự của giáo phủ; Chưởng Ấn có bổn phận thông tri cho Giám Ðốc giáo phủ biết về các văn kiện ấy.

 

Mục I: Các Tổng Ðại Diện và Các Ðại Diện Giám Mục

Ðiều 475: (1) Trong mỗi giáo phận, Giám Mục giáo phận nên đặt một Tổng Ðại Diện với quyền hành thông thường theo quy tắc của những điều luật sau đây, để giúp Giám Mục trong việc quản trị toàn giáo phận.

(2) Theo luật chung, chỉ được đặt một Tổng Ðại Diện, trừ khi giáo phận rộng lớn hoặc số người cư ngụ đông đảo hoặc vì những lý do mục vụ khác đòi hỏi cách khác.

Ðiều 476: Khi nào thấy cần cho sự quản trị chính đáng của giáo phận, Giám Mục giáo phận cũng có thể đặt một hoặc nhiều Ðại Diện Giám Mục cho một khu vực nhất định của giáo phận, hoặc cho một số công việc nhất định, hoặc cho một số giáo hữu thuộc một lễ điển, hoặc đối với một nhóm người nhất định nào đó. Các Ðại Diện Giám Mục được quyền hành thông thường mà luật phổ quát dành cho Tổng Ðại Diện, theo quy tắc của những điều sau đây.

Ðiều 477: (1) Giám Mục giáo phận tự do bổ nhiệm Tổng Ðại Diện và Ðại Diện Giám Mục, và cũng có thể bãi chức họ, miễn là tôn trọng quy tắc của điều 406; Ðại Diện Giám Mục, nếu không phải là Giám Mục phụ tá, chỉ được bổ nhiệm có hạn kỳ được định rõ trong bổ nhiệm thư.

(2) Khi Tổng Ðại Diện vắng mặt hoặc bị ngăn trở hợp lệ, Giám Mục giáo phận có thể bổ nhiệm một vị khác thay thế; quy tắc đó cũng được áp dụng cho Ðại Diện Giám Mục.

Ðiều 478: (1) Tổng Ðại Diện và Ðại Diện Giám Mục phải là những tư tế không dưới ba mươi tuổi, có bằng tiến sĩ hoặc cử nhân Giáo Luật hay Thần Học hoặc ít là thực sự thành thạo các môn đó, trổi vượt vì đạo lý lành mạnh, đức độ, khôn ngoan, và từng trải khi xử sự công việc.

(2) Chức vụ Tổng Ðại Diện và Ðại Diện Giám Mục không thể kiêm nhiệm chức vụ kinh sĩ xá giải; và cũng không thể ủy thác người cùng huyết tộc với Giám Mục cho tới cấp thứ bốn.

Ðiều 479: (1) Tổng Ðại Diện, chiếu theo chức vụ, trong toàn giáo phận có quyền hành pháp mà luật dành cho Giám Mục giáo phận, để thực hiện bất cứ mọi thứ công việc hành chánh, chỉ trừ những công việc mà Giám Mục đã dành riêng hoặc những công việc mà luật đòi phải có ủy nhiệm đặc biệt của Giám Mục.

(2) Ðại Diện Giám Mục, đương nhiên theo luật, cũng có quyền hạn nói ở triệt 1, nhưng chỉ trong giới hạn lãnh thổ hoặc thứ loại công việc hoặc số giáo hữu thuộc lễ điển hoặc đoàn nhóm nhất định mà Ðại Diện Giám Mục đã được đặt lên, trừ những việc gì Giám Mục đã dành riêng cho ngài hoặc cho Tổng Ðại Diện, hoặc những gì mà luật đòi cần phải có ủy nhiệm đặc biệt của Giám Mục.

(3) Tổng Ðại Diện và Ðại Diện Giám Mục, trong phạm vi thuộc thẩm quyền của mình, cũng được hưởng các năng ân thường lệ mà Tòa Thánh ban cho Giám Mục, cũng như việc thi hành các phúc nghị, trừ khi có quy định minh thị cách khác hoặc Giám Mục giáo phận đã được chọn vì tài cán cá nhân.

Ðiều 480: Tổng Ðại Diện và Ðại Diện Giám Mục phải tường trình cho Giám Mục giáo phận về những hoạt động quan trọng phải làm và đã làm, và không bao giờ được hành động trái với ý muốn và chủ đích của Giám Mục giáo phận.

Ðiều 481: (1) Quyền hành của Tổng Ðại Diện và của Ðại Diện Giám Mục chấm dứt khi sự ủy nhiệm đã mãn hạn, do sự từ chức, và, đừng kể quy định của các điều 406 và 409, do sự bãi chức được Giám Mục giáo phận thông tri, và khi Tòa Giám Mục khuyết vị.

(2) Nếu Giám Mục giáo phận bị huyền chức, thì quyền hành của Tổng Ðại Diện và của Ðại Diện Giám Mục cũng bị đình chỉ, nếu họ không có chức Giám Mục.

 

Mục II: Chưởng Ấn, Các Lục Sự và Văn Khố

Ðiều 482: (1) Trong bất cứ giáo phủ nào cũng phải đặt một Chưởng Ấn mà chức vụ chính yếu, nếu luật địa phương không ấn định cách nào khác, là lo thảo và gửi các văn kiện của giáo phủ, và lưu giữ tất cả mọi văn kiện trong văn khố của giáo phủ.

(2) Nếu thấy cần, có thể đặt một người phụ tá cho Chưởng Ấn, với danh nghĩa là Phó Chưởng Ấn.

(3) Chưởng Ấn và Phó Chưởng Ấn đương nhiên làm Lục Sự và Thư Ký của giáo phủ.

Ðiều 483: (1) Ngoài Chưởng Ấn ra, còn có thể đặt nhiều Lục Sự khác nữa, mà chữ viết hoặc chữ ký của họ có giá trị xác thực công chứng; họ có thể được đặt hoặc cho bất cứ mọi công việc hoặc chỉ cho những công việc về tòa án, hoặc chỉ lo về án từ của một vụ kiện hay một công chuyện nhất định.

(2) Chưởng Ấn và các Lục Sự phải là những người có tiếng tốt và không có gì bị nghi ngờ; trong những vụ kiện có thể liên hệ tới thanh danh của một tư tế, thì Lục Sự phải là một tư tế.

Ðiều 484: Trách vụ của Lục Sự là:

1. biên soạn các chứng thư và văn kiện liên quan tới các nghị định, các quyết nghị, mọi nghĩa vụ hoặc tất cả những vấn đề nào khác cần đến sự can thiệp của họ;

2. chuyển tả cách trung thực tất cả mọi thủ tục đang tiến hành, và ký nhận cùng ghi rõ nơi, ngày, tháng và năm;

3. dựa theo các quy tắc luật định, trưng bày các chứng thư và văn kiện chứa trong các sổ bộ cho những người yêu cầu cách hợp lệ, và thị thực các bản sao với sự tuyên bố hợp với nguyên bản.

Ðiều 485: Giám Mục giáo phận có thể tự do bãi chức Chưởng Ấn và các Lục Sự khác; nhưng Giám Quản giáo phận không có quyền ấy nếu không có sự đồng ý của Hội Ðồng Tư Vấn.

Ðiều 486: (1) Tất cả mọi tài liệu liên hệ tới giáo phận hoặc tới các giáo xứ, cần phải được lưu trữ hết sức cẩn thận.

(2) Trong mỗi giáo phủ cần phải lập một Văn Khố Giáo Phận tại một nơi an toàn để lưu giữ mọi văn kiện và giấy tờ liên quan tới mọi công chuyện thiêng liêng hoặc thế sự của giáo phận, được sắp xếp cho có thứ tự rõ ràng và gìn giữ cẩn thận.

(3) Cần phải lập một bản kê khai hay mục lục tất cả mọi tài liệu giữ trong Văn Khố với bản tóm tắt về từng tờ một.

Ðiều 487: (1) Văn Khố phải được khóa, và chỉ có Giám Mục và Chưởng Ấn giữ chìa khóa; không ai được phép vào nếu không có phép của Giám Mục hoặc của Giám Ðốc giáo phủ cùng với Chưởng Ấn.

(2) Mọi người có quan thiết tới các tài liệu tự bản tính đã trở thành công khai và có liên can tới tình trạng cá nhân của mình đều có quyền tự mình hoặc nhờ đại diện xin trích lục công chứng một bản tài liệu ấy, hoặc viết hoặc chụp.

Ðiều 488: Không được phép lấy các tài liệu ra khỏi Văn Khố, đừng kể trong thời gian ngắn và có sự đồng ý của Giám Mục hoặc của Giám Ðốc giáo phủ cùng với Chưởng Ấn.

Ðiều 489: (1) Trong giáo phủ giáo phận cũng phải có một Văn Khố mật, hoặc ít ra là trong Văn Khố chung có một tủ hoặc một hòm khóa kỹ lưỡng và không thể xê dịch; trong đó phải gìn giữ hết sức cẩn thận những tài liệu cần được giữ bí mật.

(2) Hằng năm phải hủy bỏ những tài liệu về các vụ kiện hình sự liên can đến phong hóa mà can phạm đã chết rồi, hoặc các vụ kiện đã kết liễu sau khi án văn đã được tuyên bố được mười năm: chỉ cần lưu lại bản tóm tắt sự kiện cùng với bản án chung quyết.

Ðiều 490: (1) Chỉ một mình Giám Mục giữ chìa khóa Văn Khố mật.

(2) Trong khi trống tòa, không được mở Văn Khố hoặc tủ mật, trừ trường hợp thực sự cần thiết, và do chính Giám Quản giáo phận đích thân mở.

(3) Không được phép lấy các tài liệu ra khỏi Văn Khố hoặc tủ mật.

Ðiều 491: (1) Giám Mục giáo phận phải lo liệu để các văn thư và tài liệu được gìn giữ cẩn thận trong các Văn Khố của các nhà thờ chính tòa, của các hợp đoàn, của các giáo xứ và của tất cả các nhà thờ khác hiện có trong lãnh thổ mình; và liệu sao để có tờ kê khai mục lục hoặc tổng mục được lập làm hai bản, một bản giữ lại trong Văn Khố riêng, và bản kia lưu giữ tại Văn Khố giáo phận.

(2) Giám Mục cũng phải lo liệu để trong giáo phận có một Văn Khố lịch sử trong đó giữ gìn và sắp xếp có hệ thống mạch lạc các tài liệu có giá trị về lịch sử.

(3) Ðể tham khảo hoặc mang ra khỏi Văn Khố mọi văn thư và mọi tài liệu đã nói ở triệt 1 và 2 trên đây, cần phải tuân giữ các quy tắc do Giám Mục giáo phận đã ấn định.

 

Mục III: Hội Ðồng Kinh Tế và Quản Lý

Ðiều 492: (1) Trong mỗi giáo phận phải thiết lập một Hội Ðồng kinh tế, do chính Giám Mục giáo phận hoặc một người được ủy nhiệm làm chủ tịch và gồm ít nhất là ba tín hữu do Giám Mục bổ nhiệm; cần phải là những người thành thạo về kinh tài và về dân luật, và thanh liêm.

(2) Các thành viên của Hội Ðồng kinh tế được bổ nhiệm với thời hạn là năm năm, nhưng khi đã mãn hạn, họ còn có thể được tái bổ năm năm nữa.

(3) Không được nhận vào Hội Ðồng kinh tế những người có họ hàng với Giám Mục do huyết tộc hoặc hôn thuộc tới cấp thứ tư.

Ðiều 493: Ngoài những nhiệm vụ đã ủy thác cho chính Hội Ðồng nói tới ở Quyển V "Về tài sản của Giáo Hội", Hội Ðồng kinh tế còn có trách vụ hằng năm, theo chỉ thị của Giám Mục giáo phận, thảo ngân sách dự thu và dự chi trù liệu cho việc điều hành tổng quát của giáo phận trong năm tới, và phê chuẩn số chi thu của năm cũ.

Ðiều 494: (1) Trong mỗi giáo phận, sau khi đã tham khảo ý kiến với Hội Ðồng Tư Vấn và Hội Ðồng kinh tế, Giám Mục phải bổ nhiệm một Quản Lý; vị này phải thực là thành thạo về kinh tài và đức độ ngay thẳng.

(2) Quản Lý được bổ nhiệm với hạn kỳ năm năm, nhưng khi mãn hạn có thể được bổ nhiệm thêm năm năm nữa. Giám Mục không được bãi chức Quản Lý trong thời gian tại chức nếu không có lý do nào hệ trọng, sau khi đã bàn hỏi ý kiến của Hội Ðồng Tư Vấn và Hội Ðồng kinh tế.

(3) Quản Lý có trách vụ, theo thể thức Hội Ðồng kinh tế ấn định, quản trị dưới quyền của Giám Mục, mọi tài sản của giáo phận, và dựa trên lợi tức thu hoạch được của giáo phận, thi hành những chi tiêu theo lệnh hợp lệ của Giám Mục hoặc của những người khác được Giám Mục ủy thác.

(4) Hàng năm, Quản Lý phải tường trình cho Hội Ðồng kinh tế về số thu và số chi.

 

Chương III: Hội Ðồng Linh Mục Và Hội Ðồng Tư Vấn

Ðiều 495: (1) Trong mỗi giáo phận, cần phải thành lập một Hội Ðồng Linh Mục, tức là một đoàn thể các Linh Mục đại diện cho Linh Mục đoàn, với nhiệm vụ tựa như Nghị Viện của Giám Mục; Hội Ðồng Linh Mục có trách vụ giúp Giám Mục trong việc cai quản giáo phận theo quy tắc luật định, để thiện ích mục vụ của phần dân Chúa đã ủy thác được thăng tiến bằng đường lối đắc hiệu nhất.

(2) Trong những hạt Ðại Diện và Phủ Doãn Tông Tòa, thì vị Ðại Diện hoặc Phủ Doãn phải lập một Hội Ðồng gồm ít là ba linh mục truyền giáo, để bàn hỏi với họ, kể cả bằng thư từ, trong những công việc hệ trọng.

Ðiều 496: Hội Ðồng Linh Mục cần có nội quy riêng được Giám Mục giáo phận phê chuẩn, dựa theo những quy tắc do Hội Ðồng Giám Mục đã ra.

Ðiều 497: Về việc chỉ định thành phần Hội Ðồng Linh Mục:

1. chừng độ một nửa thành viên được chọn do chính các tư tế tự do chọn lựa, theo quy tắc của những điều luật sau đây và của nội quy;

2. một vài tư tế, theo quy tắc nội quy, phải là những thành viên đương nhiên, tức là họ thuộc về Hội Ðồng chiếu theo trách vụ đã ủy thác cho họ;

3. Giám Mục giáo phận có quyền tự do bổ nhiệm một số người khác.

Ðiều 498: (1) Ðể thành lập Hội Ðồng Linh Mục, những người sau đây có quyền bầu cử và ứng cử:

1. tất cả các tư tế triều đã nhập tịch trong giáo phận;

2. các tư tế triều không nhập tịch trong giáo phận, cũng như các tư tế phần tử của một Dòng Tu hoặc của một Tu Ðoàn Tông Ðồ cư ngụ trong giáo phận và đang thi hành chức vụ nào đó vì thiện ích của giáo phận.

(2) Tùy theo nội quy dự liệu, quyền bầu cử và ứng cử có thể được cấp cho cả các tư tế khác có cư sở hoặc bán cư sở trong giáo phận.

Ðiều 499: Nội quy phải xác định phương thức lựa chọn các thành viên của Hội Ðồng Linh Mục, làm sao cho các tư tế của Linh Mục đoàn được đại diện xét theo các tác vụ khác nhau và các vùng khác nhau trong giáo phận.

Ðiều 500: (1) Giám Mục giáo phận có quyền triệu tập Hội Ðồng Linh Mục, chủ tọa và chỉ định những vấn đề sẽ bàn thảo trong Hội Ðồng, hoặc là chấp nhận các đề nghị của các thành viên.

(2) Hội Ðồng Linh Mục chỉ có quyền tư vấn; Giám Mục giáo phận phải hỏi ý kiến Hội Ðồng trong những việc có tầm hệ trọng, nhưng chỉ cần sự đồng ý của họ trong những trường hợp nào luật ấn định minh thị.

(3) Hội Ðồng Linh Mục không bao giờ có thể tiến hành mà không có Giám Mục giáo phận; chỉ mình Ngài có trách nhiệm lo công bố những gì đã được ấn định ở triệt 2.

Ðiều 501: (1) Các thành viên của Hội Ðồng Linh Mục được chỉ định với hạn kỳ được ấn định trong nội quy, nhưng phải làm sao để trong vòng năm năm toàn thể hoặc là một phần của Hội Ðồng được đổi mới.

(2) Khi Tòa Giám Mục khuyết vị, thì Hội Ðồng Linh Mục cũng ngưng: mọi nhiệm vụ của Hội Ðồng sẽ do Hội Ðồng Tư Vấn đảm nhiệm; trong vòng một năm kể từ ngày tựu chức, Giám Mục phải lo thành lập lại Hội Ðồng Linh Mục.

(3) Nếu Hội Ðồng Linh Mục không chu toàn nhiệm vụ đã ủy thác vì thiện ích của giáo phận hoặc lạm dụng trầm trọng nhiệm vụ của mình, thì Giám Mục giáo phận, sau khi đã tham khảo ý kiến của Tổng Giám Mục, hoặc nếu xảy ra ở giáo phận Tổng Giám Mục thì tham khảo Giám Mục giáo phận thuộc hạt cao niên nhất xét theo ngày tiến cử, có thể giải tán Hội Ðồng; nhưng trong vòng một năm phải thành lập lại Hội Ðồng.

Ðiều 502: (1) Trong các thành viên của Hội Ðồng Linh Mục, Giám Mục giáo phận được tự do lựa chọn một vài tư tế, với con số không dưới sáu và không quá mười hai, hợp thành Hội Ðồng Tư Vấn với nhiệm kỳ năm năm, với những trách vụ do luật ấn định; tuy nhiên khi đã hết nhiệm kỳ năm năm, Hội Ðồng vẫn cứ tiếp tục thi hành mọi trách vụ cho tới khi thành lập Hội Ðồng mới.

(2) Hội Ðồng Tư Vấn do Giám Mục giáo phận chủ tọa, nhưng khi cản tòa hoặc trống tòa, thì vị chủ tịch là người tạm thời thay thế Giám Mục, hoặc nếu chưa đặt được người thay thế, thì Linh Mục cao niên nhất trong Hội Ðồng xét theo ngày chịu chức.

(3) Hội Ðồng Giám Mục có thể ấn định ủy thác cho kinh sĩ đoàn nhà thờ chính tòa các nhiệm vụ của Hội Ðồng Tư Vấn.

(4) Trong các hạt Ðại Diện và Phủ Doãn Tông Tòa, các nhiệm vụ của Hội Ðồng Tư Vấn sẽ thuộc về Hội Ðồng Truyền Giáo nói ở điều 495 triệt 2, trừ khi luật đã định cách khác.

 

Chương IV: Các Hội Kinh Sĩ

Ðiều 503: Các Hội Kinh Sĩ hoặc ở các nhà thờ chính tòa hay ở các hợp đoàn khác là một tập đoàn gồm các tư tế chuyên cần lo các nghi lễ phụng vụ trọng thể hơn trong nhà thờ chính tòa hoặc nhà thờ hợp đoàn; ngoài ra Hội Kinh Sĩ nhà thờ chính tòa còn chu tất những nhiệm vụ mà luật hoặc Giám Mục giáo phận đã ủy thác.

Ðiều 504: Việc thành lập, canh tân hoặc giải tán Hội Kinh Sĩ nhà thờ chính tòa dành riêng cho Tòa Thánh.

Ðiều 505: Mỗi Hội Kinh Sĩ dù thuộc nhà thờ chính tòa hay thuộc nhà thờ hợp đoàn phải có nội quy riêng, được soạn thảo ra qua một hành vi hợp lệ của toàn hội và được Giám Mục giáo phận phê chuẩn. Nội quy đó không được thay đổi hoặc bãi bỏ nếu không có sự phê chuẩn của chính Giám Mục giáo phận.

Ðiều 506: (1) Nội quy của Kinh Sĩ Hội, tuy phải luôn luôn tôn trọng các luật thành lập, cần ấn định cơ cấu của hội và số các Kinh Sĩ; xác định bổn phận của hội và của từng Kinh Sĩ đối với việc phụng tự Thiên Chúa và việc thi hành tác vụ; ấn định các phiên họp để bàn thảo về các công chuyện liên hệ tới hội và, trong khuôn khổ của những quy định của luật phổ quát, ấn định những điều kiện cần có để các hành vi được hữu hiệu và hợp pháp.

(2) Trong nội quy cũng cần xác định về lương bổng phải trả, hoặc cố định hoặc vào dịp thi hành một nhiệm vụ, cũng như huy hiệu của các Kinh Sĩ dựa theo các quy tắc Tòa Thánh đã định.

Ðiều 507: (1) Trong các Kinh Sĩ cần có một người làm chủ tịch của hội; các chức vụ khác cần được chỉ định chiếu theo quy tắc của nội quy và tập tục thịnh hành ở địa phương.

(2) Các giáo sĩ không thuộc về hội, cũng có thể được ủy thác cho những chức vụ khác nhờ đó họ giúp đỡ các Kinh Sĩ theo quy tắc của nội quy.

Ðiều 508: (1) Kinh Sĩ xá giải hoặc tại nhà thờ chính tòa hoặc tại nhà thờ hợp đoàn, chiếu theo chức vụ, có quyền thông thường để giải trong tòa bí tích các vạ "tiền kết" chưa tuyên bố và không dành riêng cho Tòa Thánh; quyền này không thể được ủy nhiệm, nhưng có thể hành sử đối với những người ở trong giáo phận tuy không là thuộc dân của giáo phận, và đối với cả những thuộc dân của giáo phận nhưng ở ngoài lãnh thổ của giáo phận.

(2) Ở đâu không có Hội Kinh Sĩ, thì Giám Mục giáo phận sẽ đặt một tư tế để giữ nhiệm vụ đó.

Ðiều 509: (1) Sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội Kinh Sĩ, Giám Mục giáo phận, chứ không phải Giám Quản giáo phận, bổ nhiệm tất cả và từng Kinh Sĩ hoặc trong nhà thờ chính tòa hoặc trong nhà thờ hợp đoàn; mọi đặc ân trái ngược đều bị thu hồi. Việc phê chuẩn người đã được hội bầu làm chủ tịch cũng thuộc thẩm quyền của Giám Mục.

(2) Giám Mục giáo phận chỉ nên bổ làm Kinh Sĩ những tư tế nào trổi vượt về đạo lý và đời sống đứng đắn, và đã thi hành tác vụ tư tế cách hoàn hảo.

Ðiều 510: (1) Các giáo xứ sẽ không còn được liên kết với Hội Kinh Sĩ nữa; những giáo xứ nào đã liên kết với Kinh Sĩ Hội thì phải được Giám Mục giáo phận tách rời ra.

(2) Trong thánh đường vừa thuộc về giáo xứ vừa thuộc Hội Kinh Sĩ thì phải chỉ định một cha sở, có thể được chọn trong số các Kinh Sĩ hoặc có thể không; cha sở ấy có tất cả mọi trách vụ, quyền lợi và năng ân mà các quy tắc của luật đã dành cho cha sở.

(3) Giám Mục giáo phận sẽ ấn định các quy tắc nhờ đó các công việc mục vụ của cha sở và những nhiệm vụ riêng của Kinh Sĩ Hội được dung hòa cách xứng hợp; tránh đừng để cha sở có thể làm trở ngại công việc của Kinh Sĩ Hội và Kinh Sĩ Hội làm trở ngại công việc của cha sở; nếu xảy ra tranh chấp, thì Giám Mục giáo phận phải phân giải, nhưng tiên vàn ngài phải lo sao để những nhu cầu mục vụ của các tín hữu được trù liệu thỏa đáng.

(4) Các thứ dâng cúng cho một nhà thờ vừa thuộc giáo xứ vừa thuộc Hội Kinh Sĩ được suy đoán là dâng cho giáo xứ, trừ khi đã rõ cách khác.

 

Chương V: Hội Ðồng Mục Vụ

Ðiều 511: Trong mỗi giáo phận, tùy theo hoàn cảnh mục vụ thúc giục, nên thành lập Hội Ðồng Mục Vụ, với trách vụ là, dưới quyền của Giám Mục, lo nghiên cứu, cân nhắc và đề ra những kết luận thực tiễn về tất cả những gì liên quan tới hoạt động mục vụ trong giáo phận.

Ðiều 512: (1) Hội Ðồng Mục Vụ gồm các tín hữu đang thông hiệp trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo, hoặc là giáo sĩ hoặc là các phần tử các Dòng Tu và nhất là giáo dân; tất cả đều được chỉ định theo cách thức do Giám Mục giáo phận ấn định.

(2) Các tín hữu được cử vào Hội Ðồng Mục Vụ cần được lựa chọn cách nào để có thể phản ảnh được phần dân Chúa cấu tạo thành giáo phận, dựa vào các khu vực khác nhau của giáo phận, các điều kiện xã hội và nghề nghiệp, và cả tới phần vụ mà các tín hữu đóng góp trong hoạt động tông đồ hoặc với tư cách cá nhân hoặc liên hiệp với những người khác.

(3) Chỉ nên cử vào Hội Ðồng Mục Vụ những tín hữu trổi về Ðức Tin vững vàng, hạnh kiểm tốt và khôn ngoan.

Ðiều 513: (1) Hội Ðồng Mục Vụ được thành lập với một hạn kỳ nhất định, theo các quy định của nội quy được Giám Mục ban hành.

(2) Khi Tòa Giám Mục khuyết vị, thì Hội Ðồng Mục Vụ dứt.

Ðiều 514: (1) Chỉ có Giám Mục giáo phận, tùy theo nhu cầu tông đồ, có quyền triệu tập và chủ tọa Hội Ðồng Mục Vụ; cũng chỉ duy có một mình Giám Mục giáo phận có quyền công bố tất cả những gì đã được bàn thảo trong Hội Ðồng. Hội Ðồng Mục Vụ chỉ có quyền tư vấn.

(2) Hội Ðồng Mục Vụ phải được triệu tập ít là mỗi năm một lần.

 

Chương VI: Các Giáo Xứ, Các Cha Sở Và Các Cha Phó

Ðiều 515: (1) Giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu được thiết lập cách bền vững ở trong Giáo Hội địa phương, và việc săn sóc mục vụ được ủy thác cho Cha Sở làm chủ chăn riêng, dưới quyền của Giám Mục giáo phận.

(2) Chỉ duy có Giám Mục giáo phận có quyền thành lập, giải tán hoặc thay đổi các giáo xứ; tuy nhiên ngài không nên thành lập, giải tán hoặc thay đổi một cách đáng kể các giáo xứ mà không tham khảo ý kiến Hội Ðồng Linh Mục.

(3) Một khi đã được thành lập hợp lệ, giáo xứ đương nhiên được hưởng tính cách pháp nhân theo luật.

Ðiều 516: (1) Trừ khi luật quy định cách khác, chuẩn giáo xứ cũng được đồng hóa với giáo xứ. Chuẩn giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu ở trong Giáo Hội địa phương được ủy thác cho một tư tế như là chủ chăn riêng, nhưng vì hoàn cảnh đặc biệt chưa được thiết lập thành giáo xứ.

(2) Ở đâu các cộng đoàn không thể thành lập thành giáo xứ hay chuẩn giáo xứ được, thì Giám Mục giáo phận phải dự liệu việc săn sóc mục vụ cho họ bằng cách khác.

Ðiều 517: (1) Ở đâu hoàn cảnh đòi hỏi, việc săn sóc mục vụ của một giáo xứ hoặc của nhiều giáo xứ một trật có thể ủy thác cách liên đới cho nhiều tư tế, miễn là một người trong họ phải là trưởng ban điều hành việc săn sóc mục vụ; vị này hướng dẫn công việc hoạt động chung và chịu trách nhiệm trước Giám Mục.

(2) Nếu vì thiếu các linh mục, Giám Mục giáo phận xét thấy cần phải ủy thác sự tham gia thi hành công tác mục vụ cho một phó tế hoặc cho một người nào khác không có chức linh mục, hoặc cho một cộng đoàn, thì ngài cần phải đặt một linh mục có quyền hành và năng ân dành cho một Cha Sở để lo điều hành việc săn sóc mục vụ.

Ðiều 518: Theo luật chung, giáo xứ phải có tính cách tòng thổ, nghĩa là bao gồm tất cả các tín hữu thuộc một địa sở nhất định; tuy nhiên ở đâu thấy thuận lợi, cũng có thể thiết lập các giáo xứ tòng nhân xét vì ly do lễ điển, ngôn ngữ, quốc tịch của các tín hữu thuộc về một lãnh thổ hay kể cả vì một lý do nào khác.

Ðiều 519: Cha Sở là chủ chăn riêng của giáo xứ đã được giao phó, và thi hành việc săn sóc mục vụ của cộng đoàn được ủy thác dưới quyền của Giám Mục giáo phận, vì được gọi thông phần với Giám Mục vào tác vụ của Ðức Kitô, ngõ hầu chu tất nhiệm vụ giảng dạy, thánh hóa và quản trị đối với cộng đoàn ấy, với sự cộng tác của các linh mục khác hoặc với các phó tế và cả sự hợp lực của các giáo dân, theo quy tắc luật định.

Ðiều 520: (1) Một pháp nhân không thể làm Cha Sở; tuy nhiên Giám Mục giáo phận, chứ Giám Quản giáo phận không được phép, với sự đồng ý của Bề Trên có thẩm quyền, có thể ủy thác một giáo xứ cho một Dòng Tu Giáo Sĩ hoặc cho một Tu Ðoàn Tông Ðồ Giáo Sĩ, kể cả bằng việc thiết lập giáo xứ trong chính nguyện đường của Dòng Tu hay của Tu Ðoàn, với điều kiện là một linh mục phải là Cha Sở hay trưởng ban điều hành theo điều 517 triệt 1, nếu việc săn sóc mục vụ được ủy thác cách liên đới cho nhiều linh mục.

(2) Việc ủy thác giáo xứ nói ở triệt 1 có thể là vĩnh viễn hoặc chỉ trong một thời gian nhất định; trong cả hai trường hợp, cần phải làm một hợp đồng bằng giấy tờ giữa Giám Mục giáo phận và các Bề Trên có thẩm quyền của Dòng Tu hoặc của Tu Ðoàn; trong tờ hợp đồng ấy, ngoài những điều khác, cần phải xác định rõ ràng và chi tiết công tác phải thi hành, nhân sự lãnh trách vụ và vấn đề tài chánh.

Ðiều 521: (1) Ðể một người có thể được bổ nhiệm cách hữu hiệu làm Cha Sở, cần phải đã chịu chức linh mục.

(2) Ngoài ra, người đó phải trổi vượt về đạo lý lành mạnh, tác phong đứng đắn, có nhiệt tâm với các linh hồn và những nhân đức khác, cũng như những đức tính mà luật hoặc phổ quát hoặc địa phương đòi hỏi để săn sóc một giáo xứ cụ thể.

(3) Ðể bổ nhiệm người nào vào chức vụ Cha Sở, cần phải biết rõ về khả năng của người đó, theo cách thức Giám Mục giáo phận ấn định, kể cả nhờ việc khảo hạch.

Ðiều 522: Cha Sở cần được hưởng tính cách lâu bền, và vì thế cần được bổ nhiệm với thời gian vô hạn định; Giám Mục giáo phận chỉ có thể bổ nhiệm Cha Sở cho một thời gian hữu hạn, nếu Hội Ðồng Giám Mục đã chấp nhận điều đó qua một nghị quyết.

Ðiều 523: Ðừng kể quy định của điều 682 triệt 1, việc chỉ định giữ chức vụ Cha Sở thuộc thẩm quyền của Giám Mục giáo phận, qua việc tự ý trao phó; trừ khi có người nào được hưởng quyền đề cử hoặc bầu cử.

Ðiều 524: Giám Mục giáo phận, sau khi đã cân nhắc tất cả mọi hoàn cảnh, phải ủy thác giáo xứ đang khuyết vị cho người mà ngài nhận thấy có đủ khả năng chu toàn việc săn sóc giáo xứ, và phải tránh mọi thiên vị cá nhân; để thẩm định về khả năng, ngài hãy tham khảo ý kiến Cha quản hạt và xúc tiến việc thăm dò thích hợp bằng cách tham khảo ý kiến, nếu có thể được, của vài linh mục cũng như giáo dân.

Ðiều 525: Trong lúc trống tòa hoặc cản tòa thì Giám Quản giáo phận hoặc người nào tạm thời quản trị giáo phận được quyền:

1. thiết lập hoặc phê chuẩn những linh mục đã được đề cử hoặc bầu cử hợp lệ cho một giáo xứ;

2. bổ nhiệm các Cha Sở, nếu sự trống tòa hay cản tòa đã kéo dài quá một năm.

Ðiều 526: (1) Mỗi Cha Sở chỉ phải giữ việc săn sóc một giáo xứ; tuy nhiên, nếu vì thiếu các linh mục hoặc vì hoàn cảnh nào khác, một Cha Sở có thể được ủy thác săn sóc nhiều giáo xứ gần kề nhau.

(2) Trong mỗi giáo xứ chỉ được có một Cha Sở hoặc một vị điều hành theo quy tắc của điều 517 triệt 1; mọi thói quen trái nghịch cần phải bị bài bác và mọi đặc ân phản nghịch cần phải bị thâu hồi.

Ðiều 527: (1) Ai đã được tiến cử để giữ việc săn sóc mục vụ cho một giáo xứ, thì nhận lãnh trách vụ và có nghĩa vụ thi hành kể từ lúc tựu chức.

(2) Bản Quyền sở tại hoặc một Linh Mục được ngài ủy quyền dẫn Cha Sở đến tựu chức, dựa theo thể thức được chấp nhận do luật địa phương, hoặc do tục lệ hợp pháp. Tuy nhiên khi có lý do chính đáng, Bản Quyền ấy có thể miễn chuẩn thể thức đó; trong trường hợp ấy, việc cáo tri sự miễn chuẩn cho giáo xứ có giá trị như sự tựu chức.

(3) Bản Quyền sở tại sẽ ấn định thời hạn mà Cha Sở phải tựu chức; nếu thời hạn đã trôi qua vô ích không tại một ngăn trở chính đáng, thì có thể tuyên bố giáo xứ khuyết vị.

Ðiều 528: (1) Cha Sở có bổn phận dự liệu để Lời Chúa được rao truyền cách toàn vẹn cho mọi người đang cư ngụ trong giáo xứ; vì thế phải lo giảng dạy các giáo dân về các chân lý Ðức Tin, nhất là nhờ việc giảng lễ trong các ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ Buộc, và nhờ việc dạy đạo lý; ủng hộ giúp đỡ những chương trình nhằm cổ động tinh thần Phúc Âm kể cả trong lãnh vực công bình xã hội; cần phải để ý cách riêng tới việc giáo dục công giáo cho thiếu nhi và thanh niên; cố gắng, bằng mọi phương tiện có thể, cùng với sự hợp tác của các tín hữu, để sứ điệp Phúc Âm được đạt đến với cả những người đã lơ là việc giữ đạo hoặc không tuyên xưng Ðức Tin chân thật nữa.

(2) Cha Sở cố gắng để Bí Tích Thánh Thể trở nên trung tâm của cộng đoàn giáo xứ; làm sao cho mọi tín hữu được nuôi sống nhờ việc cử hành sốt sắng các bí tích, cách riêng là thường xuyên lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Thống Hối; ngoài ra, hãy cố gắng hướng dẫn các tín hữu biết cầu nguyện, kể cả việc cầu nguyện trong các gia đình, và biết tham dự cách có ý thức và tích cực vào việc phụng vụ, mà chính Cha Sở phải là người lo điều hành trong giáo xứ mình, dưới quyền của Giám Mục giáo phận, và phải canh chừng đừng để xẩy ra những lạm dụng.

Ðiều 529: (1) Ðể siêng năng chu toàn chức vụ chủ chăn, Cha Sở hãy tìm cách hiểu biết mọi tín hữu đã ủy thác cho mình săn sóc; vì thế cần đi thăm viếng các gia đình, san sẻ những lo lắng, ưu tư nhất là tang tóc của các tín hữu, và để an ủi họ trong Chúa; nếu họ có lỗi lầm gì, thì phải sửa bảo họ cách khôn khéo; đối với những bệnh nhân nhất là những người gần chết, hãy dốc hết tình bác ái với họ, tăng cường sức lực cho họ bằng các Bí Tích và phó thác linh hồn họ cho Thiên Chúa; hãy đặc biệt ân cần theo sát những người nghèo khổ, bệnh tật, những người cô đơn, những người bị lưu đầy và tất cả những người đang trải qua những sự khó khăn đặc biệt; cũng phải để ý lo cho các đôi vợ chồng và những người làm cha mẹ được nâng đỡ trong sự chu tất mọi phận sự riêng của họ và cổ võ sự tăng trưởng đời sống Kitô giáo trong gia đình.

(2) Cha Sở hãy nhận biết và thúc giục mọi tín hữu giáo dân góp phần riêng của họ vào sứ mệnh của Giáo Hội, bằng cách cổ động các Hiệp Hội nhằm các mục tiêu tôn giáo. Hãy cộng tác với Giám Mục của mình và với Linh Mục đoàn của giáo phận, và làm sao cho các tín hữu duy trì sự hiệp thông trong giáo xứ và chính họ tự cảm thấy họ vừa là phần tử của giáo phận vừa là phần tử của Giáo Hội phổ quát, và để họ dự phần cũng như nâng đỡ mọi hoạt động nhằm làm gia tăng sự thông hiệp ấy.

Ðiều 530: Những trách vụ đã được ủy thác đặc biệt cho Cha Sở là:

1. ban Bí Tích Rửa Tội;

2. ban Bí Tích Thêm Sức cho những người đang trong lúc nguy tử, theo quy tắc của điều 883 số 3;

3. ban của Ăn Ðàng và Bí Tích Xức Dầu, tuy vẫn tôn trọng quy tắc của điều 1003 triệt 2 và 3; và ban Phép Lành Tòa Thánh cho các bệnh nhân;

4. chứng giám Hôn Phối và làm phép cưới;

5. cử hành lễ nghi an táng;

6. làm phép Giếng Rửa Tội trong mùa Phục Sinh, chủ sự các cuộc rước ngoài thánh đường, và việc ban phép lành trọng thể ngoài thánh đường;

7. cử hành thánh lễ cách trọng thể hơn trong các ngày Chúa Nhật và trong các ngày Lễ Buộc.

Ðiều 531: Cho dù một người nào khác đã thi hành chức vụ thuộc giáo xứ, tất cả mọi thứ dâng cúng của các tín hữu trong dịp ấy đều phải bỏ vào quỹ của giáo xứ, trừ khi đối với những đóng góp tự nguyện, ý định của người dâng đã rõ cách nào khác. Giám Mục giáo phận, sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội Ðồng Linh Mục, phải ban hành những quy tắc dự liệu về các dâng cúng ấy được dành cho ai cũng như về thù lao cho các giáo sĩ được hưởng khi thi hành chức vụ đó.

Ðiều 532: Trong tất cả mọi hành vi pháp lý, Cha Sở là người đại diện của giáo xứ chiếu theo quy tắc luật định; ngài phải lo để mọi tài sản của giáo xứ được quản lý theo quy tắc của các điều 1281-1288.

Ðiều 533: (1) Cha Sở có bổn phận phải cư trú trong nhà xứ gần thánh đường; tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt vì lý do chính đáng, Bản Quyền sở tại có thể cho phép Cha Sở trọ ở nơi khác, nhất là ở trong nhà chung dành cho nhiều linh mục, miễn là phải dự liệu sao để các nhiệm vụ thuộc giáo xứ được chu toàn cách chu đáo và đắc lực.

(2) Trừ khi có lý do nào hệ trọng, Cha Sở mỗi năm được phép vắng mặt khỏi giáo xứ để đi nghỉ trong thời kỳ tối đa là một tháng liên tục hay gián đoạn; thời gian đi nghỉ này không bao gồm những ngày mà Cha Sở phải dự cuộc tĩnh tâm mỗi năm một lần. Tuy nhiên, để có thể vắng mặt khỏi giáo xứ quá một tuần lễ, Cha Sở buộc phải báo cho Bản Quyền sở tại biết.

(3) Giám Mục giáo phận có bổn phận ban hành những quy tắc để trong thời gian Cha Sở vắng mặt, việc săn sóc giáo xứ sẽ được bảo đảm bởi một tư tế với những năng ân cần thiết.

Ðiều 534: (1) Sau khi đã nhận giáo xứ, Cha Sở có nghĩa vụ phải dâng thánh lễ cho đoàn dân đã ủy thác cho mình vào các ngày Chúa Nhật và lễ buộc trong giáo phận; ai bị ngăn trở hợp lệ thì phải nhờ một người khác dâng lễ thay trong chính các ngày đó hoặc chính mình dâng lễ vào các ngày khác.

(2) Cha Sở nào lo săn sóc nhiều giáo xứ thì chỉ buộc dâng một thánh lễ cho tất cả đoàn dân đã ủy thác cho ngài vào những ngày nói ở triệt 1.

(3) Cha Sở nào không chu toàn nghĩa vụ nói ở các triệt 1 và 2, thì ngài phải lo dâng thánh lễ cho dân sớm hết sức, tất cả số lễ mà ngài đã bỏ sót.

Ðiều 535: (1) Trong mỗi giáo xứ phải có các sổ sách hàng xứ, tức là Sổ Rửa Tội, Sổ Hôn Phối, Sổ An Táng và các Sổ khác mà Hội Ðồng Giám Mục hoặc Giám Mục giáo phận đã quy định; Cha Sở phải lo ghi chép các Sổ Sách đó cách kỹ lưỡng và giữ gìn cẩn thận.

(2) Trong Sổ Rửa Tội phải ghi chú thêm cả việc Thêm Sức và tất cả những gì liên hệ tới tình trạng giáo luật của các tín hữu vì lý do Hôn Phối, trừ quy định của điều 1133, vì lý do dưỡng tử cũng như sự lĩnh chức thánh, khấn trọn đời trong Dòng Tu và sự thay đổi lễ điển; tất cả những ghi chú đó luôn luôn phải được ghi lại trong chứng thư đã chịu phép Rửa Tội.

(3) Mỗi giáo xứ phải có triện ấn riêng; các chứng thư về tình trạng giáo luật của các tín hữu, cũng như tất cả các văn kiện có thể có giá trị pháp lý đều phải được ký nhận bởi Cha Sở hoặc người được ủy quyền và mang triện của giáo xứ.

(4) Mỗi giáo xứ phải có Công Hàm hoặc Văn Khố trong đó lưu trữ các Sổ Sách của giáo xứ, cùng với các văn thư của các Giám Mục và các tài liệu khác cần được bảo tồn vì nhu cầu hoặc vì lợi ích; tất cả các Sổ Sách và các tài liệu đó cần được kiểm soát bởi Giám Mục giáo phận hoặc người được ủy quyền trong lúc kinh lý hoặc trong thời gian nào khác thuận tiện. Cha Sở phải đề phòng đừng để cho tất cả các Sổ Sách đó lọt vào tay người ngoại cuộc.

(5) Những Sổ Sách lâu đời của giáo xứ cũng phải lo lưu giữ cẩn thận, chiếu theo các quy định của luật địa phương.

Ðiều 536: (1) Nếu Giám Mục giáo phận xét là thuận lợi, sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội Ðồng Linh Mục, thì trong mỗi giáo xứ nên thành lập Hội Ðồng Mục Vụ, do Cha Sở chủ tọa, và trong đó các tín hữu cùng với những người chiếu theo chức vụ tham gia vào việc săn sóc mục vụ trong giáo xứ cùng đóng góp sự cộng tác của mình vào việc cổ võ sinh hoạt mục vụ.

(2) Hội Ðồng Mục Vụ chỉ có quyền tư vấn, và được điều hành theo các quy tắc do Giám Mục giáo phận đã ấn định.

Ðiều 537: Mỗi giáo xứ phải có Hội Ðồng Kinh Tế được điều hành bởi luật phổ quát và bởi các quy tắc do Giám Mục giáo phận ban hành; trong Hội Ðồng ấy, các tín hữu được tuyển chọn theo các quy tắc vừa nói, giúp Cha Sở trong việc quản lý mọi tài sản của giáo xứ, tuy vẫn tôn trọng quy định của điều 532.

Ðiều 538: (1) Cha Sở mãn chức vụ vì bị bãi chức hoặc thuyên chuyển do Giám Mục giáo phận chiếu theo quy tắc của luật; vì sự tự ý từ chức có lý do chính đáng, và để được hữu hiệu, đơn xin từ chức phải được Giám Mục chấp nhận; kể cả vì hết hạn kỳ nếu Cha Sở đã được bổ nhiệm với thời hạn nhất định chiếu theo các quy định của luật địa phương nói ở điều 522.

(2) Việc bãi chức của một Cha Sở phần tử của Dòng Tu hoặc đã nhập tịch vào một Tu Ðoàn được chi phối bởi các quy tắc của điều 682 triệt 2.

(3) Khi đã được bảy mươi lăm tuổi trọn, Cha Sở được yêu cầu đệ đơn từ chức lên Giám Mục giáo phận; chính Giám Mục cứu xét mọi hoàn cảnh về cá nhân và nơi chốn và sẽ quyết định chấp nhận hoặc khoan giãn việc từ chức. Giám Mục giáo phận phải dự liệu việc cấp dưỡng và nhà ở xứng hợp cho người đã từ chức, dựa theo các quy tắc do Hội Ðồng Giám Mục đã định.

Ðiều 539: Khi giáo xứ khuyết vị hoặc khi Cha Sở bị ngăn cản không thể thi hành nhiệm vụ mục vụ trong giáo xứ vì bị giam tù, quản thúc hoặc phát lưu, vô năng lực hoặc sức khỏe sa sút, hoặc vì những lý do nào khác, Giám Mục giáo phận phải chỉ định sớm hết sức một Giám Quản giáo xứ, tức là một tư tế thay thế Cha Sở theo quy tắc của điều 540.

Ðiều 540: (1) Giám Quản giáo xứ buộc phải thi hành các nghĩa vụ và được hưởng những quyền lợi cũng như Cha Sở, trừ khi Giám Mục giáo phận ấn định thể khác.

(2) Giám Quản giáo xứ không được phép làm điều gì có thể làm thương tổn đến quyền lợi của Cha Sở hoặc có thể làm thiệt hại cho tài sản của giáo xứ.

(3) Sau khi đã hoàn tất chức vụ, Giám Quản giáo xứ phải thanh toán sổ sách với Cha Sở.

Ðiều 541: (1) Trong lúc giáo xứ khuyết vị và cũng như khi Cha Sở bị ngăn cản thi hành nhiệm vụ mục vụ, trước khi Giám Quản được đặt lên, thì việc quản trị tạm thời giáo xứ sẽ do cha phó đảm nhiệm; nếu có nhiều cha phó, thì cha phó nào được bổ nhiệm trước hết; và nếu không có cha phó, thì do Cha Sở nào được luật địa phương chỉ định.

(2) Ai lo quản trị giáo xứ theo quy tắc triệt 1 nói trên đây, phải lập tức báo tin cho Bản Quyền sở tại biết về việc giáo xứ khuyết vị.

Ðiều 542: Các tư tế, theo quy tắc của điều 517 triệt 1, được ủy thác liên đới săn sóc mục vụ cho một giáo xứ hoặc cho nhiều giáo xứ một trật thì:

1. cần phải có đủ mọi tư cách như nói ở điều 521;

2. được bổ nhiệm hoặc được thiết lập theo quy tắc của những điều 522 và 524;

3. chỉ đảm nhiệm việc săn sóc mục vụ kể từ lúc tựu chức; trưởng ban điều hành được dẫn tới tựu chức chiếu theo quy tắc của điều 527 triệt 2; còn đối với các linh mục khác thì việc tuyên thệ Ðức Tin cách hợp lệ sẽ thay thế lễ nghi tựu chức.

Ðiều 543: (1) Nếu nhiều tư tế được ủy thác cách liên đới việc săn sóc mục vụ cho một giáo xứ hoặc cho nhiều giáo xứ khác nhau một trật, thì mỗi người, theo sự phân phối do họ ấn định, buộc phải chu toàn mọi nhiệm vụ và mọi trách vụ của Cha Sở theo các điều luật 528, 529 và 530; năng ân chứng giám Hôn Phối và mọi quyền hành miễn chuẩn mà luật định đã dành cho Cha Sở thì cũng thuộc thẩm quyền của tất cả các vị, nhưng các vị cần phải thi hành dưới sự điều khiển của trưởng ban điều hành.

(2) Tất cả các tư tế thuộc nhóm:

1. buộc phải giữ luật về cư trú;

2. đồng ý với nhau đặt ra thứ tự mà mỗi người trong ban phải dâng Thánh Lễ cho đoàn dân chiếu theo quy tắc của điều 534;

3. trong các công việc pháp lý, chỉ duy có trưởng ban điều hành giữ vai trò đại diện cho một giáo xứ hoặc cho nhiều giáo xứ đã ủy thác cho nhóm.

Ðiều 544: Khi một linh mục thuộc nhóm nói ở điều 517 triệt 1 hoặc trưởng ban điều hành của nhóm mãn chức, cũng như khi một người trong nhóm trở thành bất lực để thi hành nhiệm vụ mục vụ, thì giáo xứ hoặc các giáo xứ đã ủy thác cho cả nhóm săn sóc không trở thành khuyết vị; tuy nhiên, Giám Mục giáo phận phải bổ nhiệm một trưởng ban điều hành khác; và bao lâu Giám Mục chưa bổ nhiệm trưởng ban thì linh mục nào trong nhóm được bổ nhiệm trước hết sẽ giữ chức vụ đó.

Ðiều 545: (1) Mỗi khi xét thấy cần thiết hay thuận lợi cho việc săn sóc mục vụ tốt đẹp của một giáo xứ, thì ngoài Cha Sở ra, có thể đặt một hoặc nhiều cha phó như cộng sự viên của Cha Sở và san sẻ mọi nỗi lo âu với Cha Sở, đồng tâm nhất trí và dưới quyền của Cha Sở để thi hành nhiệm vụ mục vụ.

(2) Một cha phó có thể được đặt hoặc để lo toàn thể tác vụ mục vụ trong một giáo xứ hay một phần nhất định của giáo xứ hay một nhóm tín hữu nào đó thuộc giáo xứ, hoặc để đảm trách một tác vụ đặc định trong nhiều giáo xứ khác nhau một trật.

Ðiều 546: Ðể một người có thể được bổ nhiệm cách hữu hiệu làm cha phó, thì cần đương sự đã lãnh chức linh mục.

Ðiều 547: Giám Mục giáo phận được tự do bổ nhiệm cha phó, sau khi bàn hỏi ý kiến, nếu thấy tiện, với Cha Sở hoặc với các Cha Sở của những giáo xứ mà cha phó được cử tới, và cả với cha Quản Hạt, đừng kể quy định của điều 682 triệt 1.

Ðiều 548: (1) Mọi nghĩa vụ và mọi quyền lợi của cha phó được xác định bởi những điều luật của chương này, và bởi quy chế của giáo phận và văn thư bổ nhiệm của Giám Mục giáo phận, và nhất là do ủy nhiệm của Cha Sở.

(2) Nếu văn thư bổ nhiệm của Giám Mục không quy định minh thị cách nào khác, cha phó, chiếu theo chức vụ, có nghĩa vụ giúp Cha Sở trong toàn thể tác vụ thuộc giáo xứ, ngoại trừ việc dâng thánh lễ cho dân, và có nghĩa vụ thay thế Cha Sở nếu trường hợp xảy ra, theo quy tắc luật định.

(3) Cha phó phải thường xuyên báo cáo cho Cha Sở biết mọi chương trình mục vụ đã hoạch định hoặc đang tiến hành, ngõ hầu Cha Sở và cha phó hoặc các cha phó sẽ cùng hợp lực với nhau để dự liệu việc săn sóc mục vụ cho giáo xứ, mà họ đồng lãnh trách nhiệm.

Ðiều 549: Khi Cha Sở vắng mặt, nếu Giám Mục giáo phận không dự liệu cách nào khác theo quy tắc điều 533 triệt 3 và nếu không đặt Giám Quản giáo xứ, thì phải giữ những quy định của điều 541 triệt 1; trong trường hợp ấy, cha phó cũng có tất cả mọi nghĩa vụ của Cha Sở, trừ việc dâng thánh lễ cho dân.

Ðiều 550: (1) Cha phó buộc phải cư trú trong giáo xứ, hoặc trong một trong các giáo xứ nếu đương sự được đặt làm phó cho nhiều giáo xứ. Tuy nhiên, khi có lý do chính đáng, Bản Quyền sở tại có thể cho phép cha phó cư trú nơi khác nhất là trong nhà chung dành cho các linh mục, miễn sao việc chu toàn các nhiệm vụ mục vụ không vì thế mà bị thiệt thòi.

(2) Ở đâu có thể, Bản Quyền sở tại nên lo liệu để Cha Sở và các cha phó thực hành thói quen sống chung với nhau cách nào đó trong nhà xứ.

(3) Về thời gian đi nghỉ, cha phó cũng được hưởng quyền lợi giống như Cha Sở.

Ðiều 551: Ðối với những của dâng cúng mà các tín hữu dành cho cha phó trong khi thi hành tác vụ mục vụ, thì phải tuân giữ các quy định của điều 531.

Ðiều 552: Khi có lý do chính đáng, cha phó có thể bị Giám Mục giáo phận hoặc Giám Quản giáo phận bãi chức, miễn là tôn trọng quy định của điều 682 triệt 2.

 

Chương VII: Các Cha Quản Hạt

Ðiều 553: (1) Cha Quản Hạt, cũng gọi là Niên Trưởng hoặc Tổng Linh Mục hoặc một danh xưng nào khác, là một tư tế được đặt làm đầu một Giáo Hạt.

(2) Nếu luật địa phương không ấn định cách khác, thì Cha Quản Hạt do Giám Mục giáo phận bổ nhiệm; tùy theo sự nhận định khôn ngoan, ngài nên tham khảo ý kiến các linh mục hiện đang thi hành tác vụ trong Giáo Hạt.

Ðiều 554: (1) Chức vụ Cha Quản Hạt không được gắn liền với chức vụ Cha Sở của một giáo xứ nào nhất định; Giám Mục hãy lựa chọn tư tế nào mà ngài nhận xét thấy có khả năng, sau khi ngài đã thẩm định mọi hoàn cảnh về nơi chốn và thời thế.

(2) Cha Quản Hạt được bổ nhiệm với thời hạn nhất định, do luật địa phương xác định.

(3) Tùy theo sự quyết định khôn ngoan, Giám Mục giáo phận có thể tự do bãi chức Cha Quản Hạt khi có lý do chính đáng.

Ðiều 555: (1) Cha Quản Hạt, ngoài những năng ân mà luật địa phương đã dành cho ngài cách hợp lệ, có nghĩa vụ và quyền lợi:

1. cổ võ và phối hợp hoạt động mục vụ chung trong Giáo Hạt;

2. lo liệu để các giáo sĩ trong hạt sống xứng đáng với bậc mình, và siêng năng chu toàn mọi nghĩa vụ của mình;

3. dự liệu mọi nghi lễ tôn giáo được cử hành theo đúng mọi quy định của Phụng Vụ; để ý đến việc trang hoàng và sự sạch sẽ trong các thánh đường và các đồ thánh, nhất là trong việc cử hành Thánh Lễ và trong việc lưu trữ Thánh Thể; trông coi về việc ghi chép và lưu trữ các sổ sách nhà xứ, về việc quản lý chu đáo mọi tài sản của Giáo Hội; sau cùng, về sự bảo trì cẩn thận các nhà xứ.

(2) Trong Giáo Hạt đã ủy thác, Cha Quản Hạt phải:

1. làm sao để các giáo sĩ, theo những quy định của luật địa phương, đi tham dự vào những thời kỳ đã định, các khóa học, các lớp hội thảo về Thần Học hoặc những buổi thuyết trình chiếu theo quy tắc của điều 279 triệt 2;

2. phải lo để giúp đỡ các linh mục trong Hạt về mặt thiêng liêng, và phải tỏ ra ân cần đối với các linh mục hiện đang gặp phải những hoàn cảnh khó khăn hoặc đang bị dày vò về nhiều vấn đề.

(3) Cha Quản Hạt phải lo để các Cha Sở thuộc Hạt mà mình biết là hiện bị đau nặng, sẽ không bị thiếu thốn về phương diện tinh thần cũng như vật chất, và lo cho việc an táng các Cha Sở được cử hành xứng đáng; cũng phải dự liệu để khi Cha Sở lâm bệnh hoặc qua đời, thì mọi sổ sách, mọi tài liệu, mọi đồ vật thánh và tất cả những gì khác thuộc về thánh đường không bị hư hại hoặc mất mát.

(4) Cha Quản Hạt có bổn phận thăm viếng tất cả các giáo xứ thuộc Hạt của mình theo thể thức mà Giám Mục giáo phận đã ấn định.

 

Chương VIII: Các Quản Ðốc Nhà Thờ Và Các Tuyên Úy

Mục I: Các Quản Ðốc Nhà Thờ

Ðiều 556: Các Quản Ðốc nhà thờ được hiểu ở đây là các tư tế được ủy thác săn sóc một nhà thờ để cử hành lễ nghi ở đó. Nhà thờ ấy không thuộc giáo xứ, cũng không thuộc Hội Kinh Sĩ, cũng không phải phụ thuộc vào tu viện của Dòng Tu hay Tu Ðoàn Tông Ðồ.

Ðiều 557: (1) Quản Ðốc nhà thờ sẽ do Giám Mục giáo phận tự do bổ nhiệm, miễn là tôn trọng quyền bầu cử hoặc đề cử mà người nào đó đã có cách hợp lệ; trong trường hợp này, Giám Mục giáo phận có quyền phê chuẩn hoặc thiết lập.

(2) Cho dù nhà thờ thuộc một dòng tu giáo sĩ theo luật Giáo Hoàng, thì Giám Mục giáo phận vẫn có thẩm quyền thiết lập Quản Ðốc nhà thờ do Bề Trên đề cử.

(3) Giám Ðốc của chủng viện hoặc của trường học do các giáo sĩ điều hành sẽ làm Quản Ðốc của một nhà thờ gắn liền với chủng viện hoặc với trường học ấy, trừ khi Giám Mục giáo phận định thể khác.

Ðiều 558: Ngoại trừ điều 262, Quản Ðốc không được phép thi hành trong nhà thờ đã ủy thác cho mình những trách vụ giáo xứ nói ở điều 530 số 1-6, nếu không có sự đồng ý của Cha Sở hoặc sự ủy quyền của Cha Sở nếu sự việc đòi hỏi.

Ðiều 559: Trong nhà thờ đã ủy thác cho mình, Quản Ðốc có thể thi hành mọi nghi lễ phụng vụ kể cả một cách trọng thể, miễn là giữ những luật lệ thành lập hợp lệ và miễn là, theo thẩm định của Bản Quyền sở tại, không làm thiệt hại gì cho tác vụ của giáo xứ.

Ðiều 560: Ở đâu xét thấy thuận lợi, Bản Quyền sở tại có thể truyền cho Quản Ðốc phải cử hành trong nhà thờ vài nghi lễ nhất định dành cho giáo dân, tuy dù thuộc trách vụ giáo xứ, cũng như phải mở cửa nhà thời cho một vài nhóm tín hữu tới đó để cử hành những nghi lễ Phụng Vụ.

Ðiều 561: Nếu không có phép của Quản Ðốc hoặc của một Bề Trên hợp lệ nào khác, không ai được phép cử hành Thánh Lễ, ban các Bí Tích hoặc thi hành các nghi lễ trong nhà thờ; sự cho phép này phải được cấp ban hoặc từ chối dựa theo quy tắc luật định.

Ðiều 562: Dưới quyền của Bản Quyền sở tại và tôn trọng mọi quy chế hợp lệ và những quyền lợi thủ đắc, Quản Ðốc nhà thờ buộc phải lo liệu để mọi nghi lễ thánh được cử hành xứng đáng trong nhà thờ theo đúng quy tắc Phụng Vụ và các quy định của các luật; để các trách vụ được thi hành chu đáo, để tài sản được quản lý cách chuyên cần, các đồ thánh và nơi thánh được bảo trì và trang hoàng, và đừng để xảy ra điều gì không thích hợp bằng bất cứ cách nào đối với nơi thánh và sự tôn kính phải có đối với nhà Chúa.

Ðiều 563: Khi có lý do chính đáng và tùy theo sự quyết định khôn ngoan của mình, Bản Quyền sở tại có thể bãi chức Quản Ðốc nhà thờ cho dù vị đó đã được bầu cử hoặc đã được đề cử bởi những người khác, miễn là tôn trọng quy định của điều 682 triệt 2.

 

Mục II: Các Tuyên Úy

Ðiều 564: Tuyên Úy là một tư tế được ủy thác việc săn sóc mục vụ cách thường xuyên, ít là một phần nào, của một cộng đoàn hoặc cho một nhóm tín hữu đặc biệt, và phải thi hành theo đúng quy tắc của luật phổ quát và luật địa phương.

Ðiều 565: Bản Quyền sở tại có quyền bổ nhiệm Tuyên Úy, cũng như có quyền thiết lập người đã được đề cử hoặc phê chuẩn người đã được bầu cử, trừ khi luật đã dự liệu cách khác hoặc người nào khác đã có quyền đặc biệt hợp lệ.

Ðiều 566: (1) Tuyên Úy cần được cấp cho mọi năng ân mà công việc săn sóc mục vụ đòi hỏi. Ngoài những năng ân đã được hưởng do luật địa phương hoặc do ủy nhiệm đặc biệt. Tuyên Úy chiếu theo chức vụ, có năng ân giải tội cho các tín hữu đã ủy thác cho ngài săn sóc, rao giảng Lời Chúa cho họ, ban của Ăn Ðàng và ban Bí Tích Xức Dầu bệnh nhân, cũng như Bí Tích Thêm Sức cho những ai hiện đang trong tình trạng nguy tử.

(2) Trong các bệnh viện, khám đường và trong các hành trình hàng hải, Tuyên Úy còn được năng ân được giải các vạ tiền kết không dành riêng cho Tòa Thánh và chưa tuyên bố, đừng kể quy định của điều 976; năng ân ấy chỉ được thi hành trong những nơi vừa nói.

Ðiều 567: (1) Bản Quyền sở tại không nên bổ nhiệm Tuyên Úy cho một Dòng Tu giáo dân mà không tham khảo ý kiến của Bề Trên; Bề Trên có quyền đề cử một linh mục, sau khi đã hội ý với cộng đoàn.

(2) Tuyên Úy có quyền cử hành hoặc điều khiển mọi nghi lễ Phụng Vụ; nhưng không được phép can thiệp vào việc quản trị nội bộ của Dòng.

Ðiều 568: Ðối với những người vì điều kiện sinh sống không thể được hưởng sự săn sóc thông thường của các Cha Sở, chẳng hạn như những người di cư, lưu vong, tỵ nạn, du mục, thủy thủ, thì tùy mức độ có thể, nên đặt các Tuyên Úy để giúp họ.

Ðiều 569: Các Tuyên Úy của quân đội được chi phối bởi những luật đặc biệt.

Ðiều 570: Nếu là một nhà thờ không phải là giáo xứ gắn liền với trụ sở của một cộng đoàn hoặc của một nhóm, thì Tuyên Úy sẽ làm Quản Ðốc nhà thờ ấy, trừ khi việc săn sóc cộng đoàn hoặc nhà thờ đòi hỏi cách khác.

Ðiều 571: Trong khi thi hành nhiệm vụ mục vụ, Tuyên Úy cần duy trì sự phối hiệp đúng mức với Cha Sở.

Ðiều 572: Về việc bãi chức Tuyên Úy, phải tuân giữ quy định của điều 563.

 

(Nhóm Dịch Thuật Việt ngữ Bộ Giáo Luật)

 






Comment: