Trở Lại Mục Lục

Quyển V:

Tài Sản Của Giáo Hội

Thiên 1:

Sự Thủ Ðắc Tài Sản

 

Ðiều 1259: Giáo Hội có thể thủ đắc các tài sản bằng mọi cách thức chính đáng xét theo luật tự nhiên hay luật thiết định mà những người khác được phép.

Ðiều 1260: Giáo Hội có quyền bẩm sinh để đòi hỏi các tín hữu những gì cần thiết cho các mục đích riêng của mình.

Ðiều 1261: (1) Các tín hữu được tự do để dâng biếu tài sản cho Giáo Hội.

(2) Giám Mục giáo phận phải nhắc nhở và tùy cơ thúc bách các tín hữu về nghĩa vụ nói ở điều 222, triệt 1.

Ðiều 1262: Các tín hữu hãy trợ giúp Giáo Hội bằng những đóng góp mà họ được yêu cầu và theo những quy tắc mà Hội Ðồng Giám Mục ấn định.

Ðiều 1263: Vì những nhu cầu của giáo phận, Giám Mục giáo phận có quyền, sau khi đã hỏi ý kiến của Hội Ðồng Kinh Tế và Hội Ðồng Linh Mục, bổ một thuế vừa phải, tương ứng với huê lợi của họ, trên các pháp nhân công lệ thuộc sự cai quản của Ngài; đối với các tư nhân và pháp nhân khác thì chỉ được phép bổ một thuế ngoại thường và vừa phải, trong những trường hợp cấp bách và trầm trọng, theo những điều kiện tương tự, nhưng phải tôn trọng những luật hay tục lệ riêng đã dành cho họ những quyền thuận lợi hơn.

Ðiều 1264: Nếu luật không dự liệu cách khác, thì hội nghị các Giám Mục trong giáo tỉnh có thẩm quyền:

1. định lệ phí phải trả cho những hành vi thuộc quyền hành pháp cấp ân huệ hoặc cho việc thi hành các phúc nghị của Tòa Thánh; lệ phí này cần được Tòa Thánh phê chuẩn.

2. định các thù lao nhân dịp cử hành các bí tích hoặc á bí tích.

Ðiều 1265: (1) Ngoại trừ quyền lợi của các Dòng hành khất, cấm chỉ tất cả các tư nhân hay pháp nhân không được quyên góp cho bất cứ cơ sở hay mục tiêu có tính cách đạo đức hay cho Giáo Hội khi không có phép bằng giấy tờ của Bản Quyền riêng và Bản Quyền sở tại.

(2) Hội Ðồng Giám Mục có thể ấn định các quy tắc về việc quyên tiền. Tất cả mọi người phải giữ các quy tắc ấy, kể cả những ai, theo định chế, mang danh và thực sự là hành khất.

Ðiều 1266: Trong mọi nhà thờ và nhà nguyện, dẫu thuộc về dòng tu nhưng mở cửa cho công chúng, Bản Quyền sở tại có thể truyền một cuộc lạc quyên nhằm cho một công cuộc thuộc giáo xứ, giáo phận, quốc gia hay hoàn vũ. Tiền lạc quyên phải được cẩn thận gửi về phủ giáo phận.

Ðiều 1267: (1) Trừ khi đã nói rõ cách khác, các của cải dâng biếu cho các Bề Trên hay quản trị viên của bất cứ pháp nhân Giáo Hội nào - kể cả pháp nhân tư - được suy đoán là dâng biếu cho chính pháp nhân.

(2) Nếu là pháp nhân công, thì không được khước từ các của cải dâng biếu nói ở triệt 1 khi không có lý do chính đáng, và nếu là đồ vật đáng giá, thì phải có phép của Bản Quyền. Cũng cần có phép của Bản Quyền mới được nhận những của cải dâng biếu có kèm theo một gánh nặng về thể thức hay một điều kiện, miễn là bảo toàn điều 1295.

(3) Những của cải mà các tín hữu dâng biếu nhằm một mục tiêu xác định, thì chỉ được dành riêng cho mục tiêu ấy.

Ðiều 1268: Ðối với tài sản, Giáo Hội chấp nhận thời hiệu như một phương cách để thủ đắc và giải trừ dựa theo quy tắc của các điều 197-199.

Ðiều 1269: Các đồ thánh, nếu thuộc quyền sở hữu của tư nhân, thì có thể thủ đắc bằng thời hiệu do các tư nhân, nhưng không được dùng vào việc phàm tục, trừ khi chúng đã mất sự cung hiến hay làm phép. Nếu chúng thuộc quyền sở hữu của một pháp nhân công của Giáo Hội, thì chỉ có thể thủ đắc do một pháp nhân công khác.

Ðiều 1270: Các bất động sản, các động sản quý giá, các quyền lợi và tố quyền, dù đối nhân hay đối vật, nếu thuộc về Tòa Thánh thì chỉ đắc hiệu sau 100 năm; nếu thuộc về pháp nhân công khác của Giáo Hội, thì thời hiệu là 30 năm.

Ðiều 1271: Vì lý do mối dây hiệp nhất và bác ái, các Giám Mục, tùy theo khả năng của giáo phận, hãy cung cấp những phương thế cần thiết để Tòa Thánh có thể tùy nghi xử dụng vào việc phục vụ toàn thể Giáo Hội cách đắc lực.

Ðiều 1272: Trong những vùng nào còn có các bổng lộc theo nghĩa chặt, thì Hội Ðồng Giám Mục có nghĩa vụ ấn định cách thức điều hành chúng bằng những quy tắc được Tòa Thánh thỏa thuận và phê chuẩn. Các hoa lợi, và nếu có thể được, kể cả chính cơ sở của bổng lộc cần được chuyển dịch dần dần sang quỹ nói ở điều 1274, 1.

 

(Nhóm Dịch Thuật Việt ngữ Bộ Giáo Luật)

 






Comment: