Trở Lại Mục Lục

Quyển VII: Tố Tụng

Phần III: Vài Tố Tụng Ðặc Biệt

Thiên 1: Tố Tụng Hôn Nhân

 

Chương I: Vụ Kiện Tuyên Bố Hôn Nhân Vô Hiệu

Mục 1: Tòa án có thẩm quyền

Ðiều 1671: Theo luật riêng, các vụ kiện hôn nhân của những người đã chịu phép rửa tội thuộc thẩm quyền của thẩm phán Giáo Hội.

Ðiều 1672: Các vụ kiện về những hiệu lực thuần túy dân sự của hôn nhân sẽ thuộc quyền của thẩm phán dân sự, trừ khi luật địa phương đã ấn định là các vụ kiện ấy có thể do thẩm phán Giáo Hội cứu xét và phán định, như là vấn đề phụ đới và tùy tòng.

Ðiều 1673: Ðối với những vụ kiện về sự vô hiệu của hôn nhân mà Tòa Thánh không dành riêng, thì tòa án có thẩm quyền là:

1. tòa án tại nơi đã cử hành hôn nhân;

2. tòa án tại nơi bị đơn có cư sở hay ban cư sở;

3. tòa án tại nơi nguyên đơn có cư sở, miễn là cả hai đương sự đều cư ngụ trong lãnh thổ của cùng một Hội Ðồng Giám Mục, và được sự đồng ý của Ðại diện Tư pháp nơi bị đơn có cư sở, sau khi nghe ý kiến của chính bị đơn;

4. tòa án nơi mà trong thực tế, một phần lớn các bằng chứng sẽ được thâu thập, miễn là có sự đồng ý của Ðại diện Tư pháp tại nơi bị đơn có cư sở, sau khi đã hỏi bị đơn xem có gì phản đối hay không.

 

Mục 2: Quyền kháng nghị hôn nhân

Ðiều 1674: Những người sau đây có năng cách kháng nghị hôn nhân:

1. những người phối ngẫu;

2. chưởng lý, khi sự vô hiệu đã thành công khai, nếu không thể hay không tiện hữu hiệu hóa.

Ðiều 1675: (1) Hôn nhân nào không bị tố cáo khi cả hai vợ chồng còn sống, thì không thể bị tố cáo sau khi cả hai hay một trong hai người mệnh một, trừ khi vấn đề về sự hữu hiệu có tính cách tiên quyết để giải quyết một tranh chấp khác hoặc ở tòa giáo luật hoặc ở tòa dân sự.

(2) Nếu một người phối ngẫu mệnh một trong khi tiến hành vụ án, thì phải áp dụng điều 1518.

 

Mục 3: Nhiệm vụ của thẩm phán

Ðiều 1676: Trước khi thâu nhận vụ án và khi thấy có hy vọng đạt kết quả tốt, thẩm phán phải dùng các phương thế mục vụ để khuyến dụ hai người phối ngẫu, ngõ hầu, nếu có thể, họ hữu hiệu hóa hôn nhân và tái lập sự sống chung giữa vơ chồng.

Ðiều 1677: (1) Khi đã nhận đơn, chánh án hay thẩm phán phúc trình viên phải cáo tri án lệnh triệu ra tòa, chiếu theo quy tắc của điều 1508.

(2) Sau khi đã trôi qua hạn kỳ mười lăm ngày kể từ khi cáo tri, chánh án hay thẩm phán phúc trình viên, trừ khi một đương sự đã yêu cầu mở một phiên tòa để đối tụng, trong hạn mười ngày phải ấn định bằng án lệnh công thức vấn nạn cần được giải quyết, và phải cáo tri cho các đương sự.

(3) Trong công thức vấn nạn, không những đặt vấn đề xem sự vô hiệu của hôn nhân có chứng minh được hay không, mà còn phải xác định vì lý do gì mà sự hữu hiệu của hôn nhân bị kháng nghị.

(4) Sau mười ngày từ khi cáo tri án lệnh, nếu các đương sự không chống đối, chánh án hay thẩm phán phúc trình viên phải ra lệnh tiến hành cuộc điều tra bằng một án lệnh mới.

 

Mục 4: Bằng chứng

Ðiều 1678: (1) Bảo hệ, các luật sư của các đương sự và cả chưởng lý, nếu can dự vào vụ án, có quyền:

1. có mặt trong cuộc thẩm vấn các đương sự, các nhân chứng, các giám định viên, miễn là tuân hành quy định ở điều 1559;

2. xem các án từ tư pháp mặc dù chưa được công bố, và khảo sát các tài liệu do các đương sự cung cấp.

(2) Các đương sự không được tham dự vào cuộc thẩm vấn nói ở triệt 1, số 1.

Ðiều 1679: Trừ khi có được các bằng chứng đầy đủ từ nguồn khác, để ước định các lời cung khai của các đương sự theo quy tắc ở điều 1536, thẩm phán, nếu có thể được, hãy tìm các nhân chứng công nhận sự đáng tin của các đương sự, cũng như phải thu thập các dấu chỉ và những yếu tố bổ túc khác.

Ðiều 1680: Trong những vụ kiện về sự bất lực hay về sự thiếu ưng thuận vì bệnh tinh thần, thẩm phán phải nhờ đến một hay nhiều giám định viên, trừ khi hoàn cảnh cho thấy rõ là không cần thiết. Trong những vụ kiện khác, phải giữ quy định của điều 1574.

 

Mục 5: Án văn và sự kháng cáo

Ðiều 1681: Trong khi thẩm cứu vụ án, nếu xảy ra nghi vấn hữu lý về hôn phối bất hoàn hợp, thì tòa án, sau khi đình chỉ vụ kiện về sự vô hiệu với sự đồng ý của các đương sự, có thể tiến hành sự thẩm cứu để xin chuẩn hôn nhân thành nhận; sau đó, chuyển các án từ lên Tòa Thánh cùng với thỉnh nguyện xin chuẩn của một hay của cả hai vợ chồng và cùng với ý kiến của tòa án và của Giám Mục.

Ðiều 1682: (1) Án văn tuyên bố hôn nhân vô hiệu, cùng với các kháng cáo nếu có, và các án từ tố tụng khác, phải được chuyển, chiếu chức vụ, lên tòa kháng cáo trong hạn hai mươi ngày từ khi công bố án văn.

(2) Nếu ở tòa sơ cấp, án văn được ban hành có lợi cho sự vô hiệu của hôn nhân, thì tòa kháng cáo, sau khi cân nhắc các điều nhận xét của bảo hệ và của các đương sự nếu có, phải ra một án lệnh để hoặc xác nhận quyết nghị ấy hoặc thu nhận vụ kiện để thẩm sát theo đường lối thông thường ở cấp bực mới.

Ðiều 1683: Nếu ở cấp bậc kháng cáo, một lý do mới của sự vô hiệu hôn nhân được nại ra, tòa án có thể thu nhận lý do đó và phán định như ở tòa sơ cấp.

Ðiều 1684: (1) Sau khi án văn tuyên bố hôn nhân vô hiệu ở tòa sơ cấp được xác nhận bằng án lệnh hay bằng một án văn khác ở tòa kháng cáo, thì những người có hôn nhân bị tuyên bố vô hiệu, có thể tái hôn liền sau khi án lệnh hoặc án văn khác được cáo tri, trừ khi có lệnh ngăn cấm tái hôn đã được ghi chú vào án văn hay án lệnh, hoặc do Bản Quyền sở tại đã ấn định.

(2) Những quy định ở điều 1644 phải được tuân giữ, cả khi án văn tuyên bố hôn nhân vô hiệu đã được xác nhận không phải bằng một án văn khác, nhưng bằng một án lệnh.

Ðiều 1685: Khi án văn đã có hiệu lực chấp hành, Ðại diện Tư pháp phải thông tri cho Bản Quyền sở tại nơi đã cử hành hôn nhân. Bản Quyền này phải lo ghi chú ngay vào sổ hôn phối và sổ rửa tội, về sự tuyên bố hôn nhân vô hiệu và những ngăn cấm kèm theo nếu có.

 

Mục 6: Tố tụng dựa trên tài liệu

Ðiều 1686: Sau khi nhận thỉnh đơn theo quy tắc của điều 1677, Ðại diện Tư pháp hay thẩm phán được Ðại diện Tư pháp chỉ định, có thể bỏ những trọng thức của vụ kiện thông thường, và triệu các đương sự ra tòa, cùng với sự can thiệp của bảo hệ, để tuyên bố hôn nhân vô hiệu, nếu tài liệu chứng minh rõ ràng có ngăn trở tiêu hôn hay thiếu hình thức hợp lệ; tài liệu ấy phải chắc chắn không thể bị phản đối hay khước biện và cũng chắc chắn rằng ngăn trở đã không được miễn chuẩn, hoặc người đại diện đã không có ủy nhiệm thư hữu hiệu.

Ðiều 1678: (1) Nếu bảo hệ ước định cách khôn ngoan rằng những hà tì nói ở điều 1686 hay sự thiếu miễn chuẩn, không được chắc chắn, thì vị ấy phải kháng cáo chống lại lời tuyên bố vô hiệu lên thẩm phán tòa đệ nhị cấp. Các án từ phải được gởi đến thẩm phán tòa đệ nhị cấp, đồng thời phải chú thích trên giấy tờ cho biết đó là một vụ tố tụng dựa trên tài liệu.

(2) Ðương sự nào cho rằng mình bị thiệt hại, có toàn quyền kháng cáo.

Ðiều 1688: Thẩm phán tòa đệ nhị cấp, với sự can dự của bảo hệ và sau khi nghe các đương sự, sẽ quyết định cũng một cách như nói ở điều 1686, để xác nhận án văn hay phải tiến hành vụ kiện theo thủ tục thông thường của luật pháp; trong trường hợp này, thẩm phán phải gởi trả vụ kiện cho tòa sơ cấp.

 

Mục 7: Tổng tắc

Ðiều 1689: Trong án văn, các đương sự phải được nhắc nhở cả về những bổn phận luân lý hay dân sự mà bên này phải giữ đối với bên kia, và đối với việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái.

Ðiều 1690: Không được áp dụng tố tụng hộ sự khẩu biện trong các vụ kiện tuyên bố hôn nhân vô hiệu.

Ðiều 1691: Trong những vấn đề khác liên quan đến thủ thục tiến hành, phải áp dụng các điều khoản nói về sự phán xử nói chung và về tố tụng hộ sự thông thường, trừ khi bản chất vấn đề đòi hỏi cách khác, cũng như phải tuân giữ các quy tắc đặc biệt về các vụ kiện về thân trạng và các vụ kiện liên quan đến công ích.

 

Chương II: Các Vụ Kiện Ly Thân

Ðiều 1692: (1) Trừ khi có luật pháp đã dự liệu đặc biệt cho từng địa phương, sự ly thân của hai vợ chồng đã chịu phép rửa tội có thể được quyết nghị do nghị định của Giám Mục giáo phận, hay do bản án của thẩm phán, chiếu theo quy tắc của các điều luật sau đây.

(2) Ở đâu quyết định của giáo quyền không phát sinh hiệu lực về dân luật, hay nếu thấy trước bản án dân luật không nghịch lại thiên luật, Giám Mục giáo phận nơi hai vợ chồng cư ngụ, sau khi cân nhắc hoàn cảnh đặc biệt, có thể cho phép họ nại đến tòa án dân sự.

(3) Nếu vụ án cũng liên qua đến các hiệu lực thuần túy dân sự của hôn nhân, thì thẩm phán, sau khi giữ quy định nói ở triệt 2, phải làm thế nào để vụ kiện ngay từ đầu được đưa ra tòa án dân sự.

Ðiều 1693: (1) Nếu đương sự hay chưởng lý không yêu cầu áp dụng tố tụng hộ sự thông thường, thì sẽ áp dụng tố tụng hộ sự khẩu biện.

(2) Nếu áp dụng tố tụng hộ sự thông thường và kháng cáo được đệ nạp, thì tòa đệ nhị cấp phải tiến hành theo quy tắc của điều 1682, triệt 2, miễn là giữ những gì cần phải giữ.

Ðiều 1694: Về thẩm quyền tòa án, phải giữ các quy định của điều 1673.

Ðiều 1695: Trước khi nhận vụ kiện và khi đoán có hy vọng đạt được kết quả tốt, thẩm phán phải dùng các phương thế mục vụ để giải hòa hai vợ chồng và khuyến dụ họ tái lập cuộc sống chung.

Ðiều 1696: Những vụ kiện ly thân cũng liên quan đến công ích; vì thế chưởng lý phải luôn can thiệp theo quy tắc của điều 1433.

 

Chương III: Tố Tụng Miễn Chuẩn Hôn Nhân Thành Nhận Nhưng Bất Hoàn Hợp

Ðiều 1697: Duy chỉ hai vợ chồng hay một trong hai, mặc dù người kia không muốn, mới có quyền yêu cầu ơn chuẩn hôn nhân thành nhận nhưng chưa hoàn hợp.

Ðiều 1698: (1) Chỉ một mình Tòa Thánh phán quyết về sự kiện bất hoàn hợp của hôn nhân, và về sự có lý do chính đáng để ban ơn chuẩn.

(2) Ơn chuẩn chỉ do một mình Ðức Thánh Cha ban mà thôi.

Ðiều 1699: (1) Thẩm quyền nhận đơn xin chuẩn là Giám Mục Giáo Phận nơi nguyên đơn có cư sở hay bán cư sở; nếu lời yêu cầu có căn bản, Giám Mục phải ra lệnh để lo thẩm cứu vụ kiện.

(2) Nếu trường hợp đề ra có nhiều khó khăn đặc biệt thuộc lãnh vực pháp lý và luân lý, Giám Mục giáo phận phải hỏi ý kiến Tòa Thánh.

(3) Nếu đơn thỉnh nguyện bị nghị định của Giám Mục bác bỏ, thì có thể thượng tố lên Tòa Thánh.

Ðiều 1700: (1) Tuy vẫn tuân giữ điều 1681, Giám Mục nên ủy thác việc thẩm cứu các vụ này, cách thường xuyên hay cho từng trường hợp, cho tòa án giáo phận của mình hay của giáo phận khác, hoặc cho một linh mục có khả năng.

(2) Nếu đã nạp đơn khởi tố để xin tuyên bố sự vô hiệu của hôn nhân ấy, thì sự thẩm cứu vụ kiện phải được ủy thác cho cùng một tòa án.

Ðiều 1701: (1) Trong các vụ kiện này, bảo hệ phải luôn luôn can thiệp.

(2) Luật sư không được thâu nhận; tuy nhiên, vì trường hợp khó khăn, Giám Mục có thể cho phép nguyên đơn hay bị đơn nhờ một chuyên viên về luật khoa giúp đỡ.

Ðiều 1702: Trong khi thẩm cứu, phải nghe cả hai người phối ngẫu, và trong mức độ có thể, phải giữ các điều khoản về việc thu thập bằng chứng trong tố tụng hộ sự thông thường và trong những vụ kiện tuyên bố hôn nhân vô hiệu, miễn là có thể dung hòa với bản tính của các vụ kiện này.

Ðiều 1703: (1) Án từ sẽ không được công bố. Tuy nhiên, nếu thấy rằng các bằng chứng được trưng dẫn gây ngăn trở hệ trọng cho thỉnh nguyện của nguyên đơn hay cho khước biện của bị đơn, thẩm phán có thể khôn ngoan tỏ cho bên đương sự liên hệ biết.

(2) Nếu có đương sự nào yêu cầu, thẩm phán có thể cho xem tài liệu đã được đệ trình hay bằng chứng đã được thu thập, và có thể ấn định thời hạn để rút ra các kết luận.

Ðiều 1704: (1) Sau khi hoàn tất cuộc thẩm cứu, người thẩm cứu phải trao tất cả án từ cùng với tờ phúc trình xứng hợp cho Giám Mục. Giám Mục phải phát biểu ý kiến của mình dựa trên sự thật khách quan về sự kiện bất hoàn hợp, cũng như về lý do chính đáng để miễn chuẩn và sự thích hợp của ơn chuẩn.

(2) Nếu việc thẩm cứu vụ kiện được ủy thác cho một tòa án khác theo quy tắc của điều 1700, thì các nhận xét bảo vệ hôn hệ sẽ do chính tòa án đó soạn thảo, nhưng ý kiến nói ở triệt 1 thuộc về Giám Mục đã ủy nhiệm; người thẩm cứu phải trao cho ngài bản phúc trình xứng hợp cùng với các án từ.

Ðiều 1705: (1) Giám Mục phải gởi lên Tòa Thánh tất cả các án từ cùng với ý kiến của mình và các nhận xét của bảo hệ.

(2) Nếu xét cần phải bổ túc sự thẩm cứu, thì Tòa Thánh sẽ cho Giám Mục biết và sẽ chỉ định những phần nào phải được thẩm cứu bổ túc.

(3) Nếu Tòa Thánh phúc đáp rằng qua các bằng chứng không xác định được sự bất hoàn hợp, thì chuyên viên luật khoa nói ở điều 1701, triệt 2, có thể xem xét án từ vụ kiện tại trụ sở tòa án, nhưng không được xem ý kiến của Giám Mục, ngõ hầu ước định xem có thể thêm lý do nào hệ trọng để đệ nạp thỉnh nguyện lần nữa.

Ðiều 1706: Phúc nghị của ân chuẩn sẽ được Tòa Thánh gởi cho Giám Mục, Giám Mục sẽ cáo tri phúc nghị cho các đương sự và truyền lệnh ngay cho cha sở nơi đã kết hôn và nơi đã chịu phép rửa tội, để ghi chú ân chuẩn vào sổ hôn phối và sổ rửa tội.

 

Chương IV: Vụ Kiện Suy Ðoán Sự Mệnh Một Của Người Phối Ngẫu

Ðiều 1707: (1) Một khi sự mệnh một của một người phối ngẫu không được chứng minh bằng tài liệu công chứng của giáo quyền hay chính quyền, người phối ngẫu kia không được tự tháo bỏ hôn hệ, nếu không được Giám Mục giáo phận tuyên bố sự suy đoán tử vong.

(2) Giám Mục giáo phận chỉ có thể ra tuyên cáo nói ở triệt 1, sau khi đã điều tra cẩn thận, qua các lời cung khai của các nhân chứng, qua tiếng đồn hay qua các dấu hiệu khác, hầu nắm được sự chắc chắn luân lý về sự mệnh một của người phối ngẫu. Nguyên sự thất tung, tuy đã lâu dài, không đủ để có thể tuyên bố.

(3) Trong những trường hợp không chắc và phức tạp, Giám Mục phải hỏi ý kiến của Tòa Thánh.

 

(Nhóm Dịch Thuật Việt ngữ Bộ Giáo Luật)

 






Comment: